Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thuý

2. Ông Võ Xuân Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Chamaléa Thị N, sinh năm: 1997. Có mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Xuân L – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Chamaléa G, sinh năm: 1996. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Chamaléa Thị N trình bày: Bà và ông Chamaléa G đã tìm hiểu và tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 21/02/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau và có 01 con chung tên Chamaléa T, sinh năm 2014, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông G ngoại tình với người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc giải quyết cho bà được ly hôn với ông G.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Chamalé T1, sinh năm 2014. Hiện nay bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn bà N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông G cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Chamalé G1 không đến Toà nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên toà nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt nên không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc thể hiện:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử luôn tuân theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chamaléa Thị N về việc xin ly hôn với ông Chamaléa G.

Về con chung: Do bà N đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Để con được phát triển ổn định nên đề nghị HĐXX giao con chung cho bà N nuôi dưỡng. Ông G không cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết

Về án phí: Bà N là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hoàn toàn thống nhất ý kiến với Kiểm sát viên trong việc giải quyết vụ án hôn nhân gia đình này. Bà N và ông G đã sống ly thân từ năm 2023 đến này. Nguyên nhân mâu thuẫn đã được HĐXX làm rõ. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Chamaléa Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Chamaléa G và bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Do đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), HĐXX xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

[2] Tòa án ra thông báo về việc thụ lý vụ án và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là ông Chamaléa G. Thông báo có ghi rõ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chứng cứ kèm theo là bản sao Giấy chứng nhận kết hôn và sổ hộ khẩu, giấy khai sinh. Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại Điều 199 của Bộ luật tố tụng dân sự, ông G không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không phản đối chứng cứ do bà N cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS). Sau khi thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ông G vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Bà Chamaléa Thị N và ông Chamaléa G kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 21/02/2017. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn bà N và ông G sống chung với nhau một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn. Theo Biên bản lấy lời khai của bà N, ngày 16/8/2024 (BL 22) có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông G có xảy ra mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn vì ông G ngoại tình, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023. Bà N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông G. Theo biên bản xác minh ngày 07/8/2024 (BL 24), nơi các đương sự cư trú có nội dung: “Các đương sự trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do ông G ngoại tình, vợ chồng hiện tại đã sống ly thân...”. Từ những nhận định trên, HĐXX xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông G đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chamaléa Thị N về việc xin ly hôn ông Chamaléa G.

[4] Về con chung: Nhận thấy con chung tên Chamaléa T, sinh năm 2014. Hiện nay bà đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông G cấp dưỡng. HĐXX chấp nhận ý kiến của nguyên đơn, giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không cấp dưỡng do bà G không yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Chamaléa Thị N không phải chịu tiền án phí sơ thẩm do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Bà Chamaléa Thị N được ly hôn với ông Chamaléa G.

Về con chung: Giao con chung tên Chamaléa T, sinh năm 2014 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông G không cấp dưỡng do bà N không yêu cầu.

Không ai được phép cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: Bà Chamaléa Thị N không phải chịu tiền án phí sơ thẩm do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024). Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, tống đặt, niêm yết bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - UBND xã Bắc phong (Cơ quan thực hiện việc ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Minh Đăng

Các Hội thẩm Nhân dân

Nguyễn Võ Phương Dung

Nguyễn Thanh Hạnh

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.

Ngô Minh Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà M được ly hôn ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger