|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Bình
Ông Lưu Đình Túy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Q, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng P, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, Thanh Hóa.
Hiện đang chấp hành án tại Đội 23, phân trại số A, Trại giam T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 21/6/2024 và bản tự khai ngày 08/7/2024 chị Lê Thị Q trình bày:
- Về hôn nhân: chị Q và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức hôn lễ và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/02/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn do hai vợ chồng không còn tình cảm và tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Đến ngày 22/7/2022 anh Nguyễn Đăng P bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và bị chấp hành hình phạt tù 11 năm. Đến nay chị Q xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá giải quyết cho chị được ly hôn với anh P
- Về con chung: Chị Q và anh P có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng N, sinh ngày 17/6/2015. Nguyện vọng của chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu N và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con do hiện nay anh P đang phải chấp hành án nên không có thu nhập.
- Về tài sản và công nợ: Chị Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 28/8/2024 anh Nguyễn Đăng P trình bày:
- Về hôn nhân : Anh P thống nhất ý kiến với chị Q về điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, thời điểm phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2022 thì anh P bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành hình phạt tù là 11 năm tù nên chị Q cảm thấy không hài lòng. Nay chị Q làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn chị Q.
- Về con chung: Anh và chị Q là có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng N, sinh ngày 17/6/2015; hiện cháu N đang ở với chị Q. Ly hôn anh P có nguyện vọng giao cháu N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Q vì hiện nay anh đang chấp hành án phạt tù nên không có thu nhập.
- Về tài sản và công nợ: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bản tự khai ngày 08/7/2024 cháu Nguyễn Đăng N trình bày: Nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Anh P có đơn xin Toà án giải quyết vắng mặt trong các lần tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như xét xử tại phiên toà. Chị Q cũng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại Biên bản xác minh ngày 04/9/2024 tại thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa do bà Nguyễn Thị N1 - Trưởng thôn trình bày về thời gian và địa điểm kết hôn như anh P và chị Q trình bày là đúng; tuy nhiên sau khi kết hôn vợ chồng chị Q và anh P mâu thuẩn như thế nào thì thôn không biết. Hiện nay anh P đang đi chấp hành án tại Trại giam T - Bộ C về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Nay chị Q làm đơn xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Q và anh P có 01 con chung là cháu N hiện nay cháu N đang ở với chị Q thì đề nghị Toà án căn cứ theo quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu N để giao cho người trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi của cháu. Về tài sản và công nợ: Chị Q anh P có những tài sản gì và vay nợ ai hay không thì địa phương không biết.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình và khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Đăng P.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng N, sinh ngày 17/6/2015 cho chị Q trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh P đang chấp hành án tại Trại giam T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa nên không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N.
Về tài sản, công nợ: Chị Q, anh P không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Q có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc hôn nhân gia đình giữa chị và anh Nguyễn Đăng P, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh P chị Q đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Q và anh Nguyễn Đăng P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19/02/2013 tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và được UBND xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy hôn nhân giữa chị Q và anh P là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị Lê Thị Q và anh Nguyễn Đăng P chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẩn do hai vợ chồng không còn tình cảm và tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Hiện nay anh đang chấp hành án tại Trại giam T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Nay chị Q xin ly hôn, anh P xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn chị Q. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị Q được ly hôn anh P là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Q anh P có 01 con chung cháu Nguyễn Đăng N, sinh ngày 17/6/2015, chị Q có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi cháu N. Anh P cũng có nguyện vọng giao cháu N cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng nuôi cháu N vì hiện nay anh P đang đi chấp hành án nên không có điều kiện chăm sóc và cấp dưỡng nuôi cháu N. HĐXX chấp nhận sự thống nhất thỏa thuận về nuôi con của chị Q và anh P, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Q anh P không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Q phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28 ; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Đăng P.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng N, sinh ngày 17/6/2015 cho chị Lê Thị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Đăng P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Q anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Q phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTU/23 số 0001996 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị Q đã nộp đủ án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Hà |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
