|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ -TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/KDTM-ST
Ngày: 27-8-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng là thư ký của Tòa án nhân dân
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng:
Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLST-KDTM ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (A); Địa chỉ trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền bà Hứa Thị Thùy N, chức vụ: Giám đốc Phòng G - Ngân hàng N2, chi nhánh quận C (theo giấy ủy quyền số 230/GUQ.NHNoCL-TH ngày 20/5/2024 của Giám đốc ngân hàng N3 - Chi nhánh quận C); Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Trịnh Quang H, sinh năm: 1974 và bà Trần Thị Thu T, sinh năm: 1976; Cùng địa chỉ cư trú: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Ông H và bà T vắng mặt lần 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/02/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Hứa Thị Thùy N trình bày:
Ngày 16/12/2022, bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H có đề nghị và được Ngân hàng N2 (A) - chi nhánh Quận C - Phòng G cho vay kinh doanh gia công cơ khí theo hợp đồng tín dụng số 2005-LAV-202203350 ngày 16/12/2022 được ký giữa khách hàng và Ngân hàng, số tiền cho vay là 700.000.000 đồng, thời hạn vay: 12 tháng.
Biện pháp bảo đảm: Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, số vào sổ cấp GCN: H01763 đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H. Giá trị tài sản bảo 958.580.000 đồng đảm bảo cho số tiền gốc: 700.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2005-LCL-202202469 ngày 15/12/2022, công chứng tại VPCC Trần Công M, Đà Nẵng ngày 15/12/2022. Đăng ký giao dịch đảm bảo theo Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 15/12/2022.
Việc vi phạm nghĩa vụ: Tính đến hết ngày 02/02/2024, bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H không thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng. A Chi nhánh Quận C đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 2005- LAV-202203350 ngày 16/12/2022. Tuy nhiên, tính đến nay, bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ lãi đến hạn cho A, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A.
Về yêu cầu: Căn cứ nội dung nêu trên, Ngân hàng N2 yêu cầu Tòa án tuyên buộc như sau:
- Buộc bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử, ngày 27/8/2024 là: 780.129.643 đồng. Trong đó, nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn là 53.382.192 đồng, lãi quá hạn là 26.747.451 đồng.
- Yêu cầu bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được phát mãi theo quy định.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, bị đơn ông Trịnh Quang H trình bày:
Ông xác nhận về lời trình bày của đại diện của Ngân hàng N2 về việc ký kết hợp đồng tín dụng, thời gian, số tiền vay, mục đích vay, lãi suất và tài sản thế chấp là đúng. Trong thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng do việc làm ăn bị thua lỗ nên vợ chồng ông vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Ông thừa nhận tính đến ngày 05/7/2024 ông và vợ là bà Trần Thị Thu T còn nợ ngân hàng tổng cộng gốc và lãi là 764.341.153 đồng. Nay Ngân hàng N2 khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông bà trả nợ gốc và lãi ông bà đồng ý trả nhưng xin được trả dần.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền thụ lý vụ án; Về quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng; Về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn ông H và bà T không thực hiện đúng quy định.
- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng N2 đối với bị đơn là bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H:
- - Tuyên buộc bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 27/8/2024 là 780.129.643 đồng. Trong đó, nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn là 53.382.192 đồng, lãi quá hạn là 26.747.451 đồng.
- - Buộc bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H Yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng.
- - Trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được phát mãi theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 16/12/2022, Ngân hàng N2 - Chi nhánh Quận C- Phòng G và ông Trịnh Quang H, bà Trần Thị Thu T ký kết hợp đồng tín dụng. Mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động kinh doanh gia công cơ khí. Cả hai bên đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[3] Bị đơn ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H và bà T.
Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc và nợ lãi:
[3.1] Các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình như Hợp đồng cho vay số 2005-LAV-202203350 ngày 16/12/2022 thể hiện: Ngày 16/12/2022, giữa bà Trần Thị Thu T, ông Trịnh Quang H và Ngân hàng N2 - Chi nhánh quận C có ký kết Hợp đồng cho vay số 2005-LAV-202203350; số tiền vay là 700.000.000đồng, phương thức cho vay: Cho vay từng lần; thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày ký đến hết ngày 16/12/2023; mục đích vay là để bổ sung vốn lưu động kinh doanh gia công cơ khí; lãi suất cho vay 10%/năm, A được quyền chủ động điều chỉnh lãi suất cho vay theo định kỳ 03 tháng/lần; lãi quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Sau khi ký hợp đồng ngân hàng đã giải ngân cho ông H bà T. Xét thấy hợp đồng tín dụng ký kết giữa bà Trần Thị Thu T, ông Trịnh Quang H và Ngân hàng N2 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với Điều 117, 436 Bộ luật Dân sự và các Điều 23, 27 và 28 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N4 nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Hiện nay khoản vay của ông H bà T đã quá hạn nhưng ông H bà T không thanh toán cho ngân hàng, ông H bà T đã vi phạm khoản 4 Điều 1 của hợp đồng. Nay Ngân hàng N2 khởi kiện yêu cầu ông H bà T phải có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 780.129.643 đồng (Bảy trăm tám mươi triệu một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó, nợ gốc: 700.000.000 đồng, lãi trong hạn: 53.382.192 đồng, lãi quá hạn: 26.747.451 đồng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91; khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; các điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Việc ông Trịnh Quang H yêu cầu được trả dần nhưng không được đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N2 đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3.3] Ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng N2 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2005-LAV-202203350 ngày 16/12/2022 đã ký kết giữa Ngân hàng N2 và Trịnh Quang H, bà Trần Thị Thu T kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
[3.4] Ngân hàng N2 có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, số vào sổ cấp GCN: H01763 đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H sau khi ông H và bà T trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng N2.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng N2 về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bà T và ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
[4.1] Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bà T và ông H đối với các khoản vay tại Ngân hàng A, bà T và ông H đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất ở theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, số vào sổ cấp GCN: H01763 đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H. Giá trị tài sản bảo 958.580.000 đồng đảm bảo cho số tiền gốc: 700.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2005-LCL-202202469 ngày 15/12/2022, công chứng tại Văn phòng C, Đà Nẵng ngày 15/12/2022. Đăng ký giao dịch đảm bảo theo Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 15/12/2022. Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở này được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được công chứng theo quy định, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các Điều 117, 298, 317, 401 Bộ luật Dân sự.
[4.2] Tại biên bản ghi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/7/2024 thể hiện hiện trạng tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1924, tờ bản đồ số 10, diện tích 57,4 m², tọa lạc tại địa chỉ: K T, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904, số vào sổ cấp GCN: H01763 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H. Về các công trình, tài sản trên đất: Nhà ở cấp 4 có gác lửng, mái lợp tôn có la phông, tường xây gạch trát vữa sơn vôi, mái bê tông cốt thép, nền gạch men. Tứ cận của nhà và đất: Phía Bắc giáp đường k597/6 T, Phía Nam giáp thửa đất số 54a và thửa đất 658, Phía Đông giáp phần sau thửa đất số 658, Phía Tây giáp K597/4 T (nhà ông N1, thửa đất số 54a), hiện nhà ở và quyền sử dụng đất do ông H bà T quản lý, sử dụng.
[4.3] Vì vậy, trong trường hợp bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1924, tờ bản đồ số 10, diện tích 57,4 m2, tọa lạc tại địa chỉ: K T, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904, số vào sổ cấp GCN: H01763 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, đứng tên bà Trần Thi Thu T1 và ông Trịnh Quang H và công trình, tài sản trên đất là Nhà ở cấp 4 có gác lửng, mái lợp tôn có la phông, tường xây gạch trát vữa sơn vôi, mái bê tông cốt thép, nền gạch men. Tứ cận của nhà và đất: Phía Bắc giáp đường k597/6 T, Phía Nam giáp thửa đất số 54a và thửa đất 658, Phía Đông giáp phần sau thửa đất số 658, Phía Tây giáp K597/4 T (nhà ông N1, thửa đất số 54a) sẽ được xử lý theo quy định tại các điều 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự.
[5] Trường hợp bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng N2 thì Ngân hàng N2 phải trả lại cho bà T ông H Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BN 126237, Số vào số cấp GCN: CTs 11731 do Sở T2 cấp ngày 27/5/2008 đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa hôm nay phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
[7] Về án phí:
[7.1] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 35.205.185 đồng (Ba mươi lăm triệu hai trăm lẻ năm nghìn một trăm tám mươi lăm đồng).
[7.2] Hoàn trả cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí 16.597.290 đồng (Mười sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu số 0000663 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự là 3.000.000 đồng, nhưng Ngân hàng N2 đã nộp tạm ứng trước (đã chi) nên buộc bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N2 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 30, 35, 39, 157,158, 232, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 398, 401, 464, 466 và 468 Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T.
- Buộc ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 780.129.643 đồng (Bảy trăm tám mươi triệu một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó, nợ gốc là 700.000.000 đồng, lãi trong hạn là 53.382.192 đồng, lãi quá hạn là 26.747.451 đồng.
- Ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng N2 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 2005-LAV-202203350 ngày 16/12/2022 đã ký kết giữa Ngân hàng N2 và Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
- Ngân hàng N2 có nghĩa vụ trả lại bản chính Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, số vào sổ cấp GCN: H01763 đứng tên bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H sau khi ông H và bà T trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng N2.
- Trường hợp bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1924, tờ bản đồ số 10, diện tích 57,4 m2, tọa lạc tại địa chỉ: K T, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AM 527904, số vào sổ cấp GCN: H01763 do UBND Quận C cấp ngày 27/5/2008, đứng tên bà Trần Thi Thu T1 và ông Trịnh Quang H và công trình, tài sản trên đất là Nhà ở cấp 4 có gác lửng, mái lợp tôn có la phông, tường xây gạch trát vữa sơn vôi, mái bê tông cốt thép, nền gạch men. Tứ cận của nhà và đất: Cạnh Bắc giáp đường K T, cạnh Nam giáp thửa đất số 54a và thửa đất 658, cạnh Đông giáp phần sau thửa đất số 658, cạnh Tây giáp K597/4 Tôn Đản (thửa đất số 54a) sẽ được xử lý theo quy định tại các điều 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Ông Trịnh Quang H và bà Trần Thị Thu T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 35.205.186 đồng (Ba mươi lăm triệu hai trăm lẻ năm nghìn một trăm tám mươi sáu đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí là 16.597.290 đồng (Mười sáu triệu năm trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu số 0000663 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H phải hoàn trả cho Ngân hàng N2 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
- Nguyên đơn là Ngân hàng N2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn là bà Trần Thị Thu T và ông Trịnh Quang H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 10/2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và ông Trịnh Quang H, bà Trần Thị Thu T
