Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN S

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Dũng.

2. Ông Đinh Văn Hoát.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Nhị – Thư ký Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 04/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Sinh T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/6/2001 tại tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố L, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/02/2023 bị Công an huyện P, tỉnh Bình Định xử phạt hành chính với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo đã chấp hành xong.

Ngày 04/9/2024 có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 09/9/2024 bị bắt tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đinh Thị S, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Đinh Thi Đ, sinh năm 1977.
  2. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

  3. Đinh Thị T2, sinh năm 1996.
  4. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt

  5. Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1974.
  6. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người phiên dịch: Bà Đinh Thị H - Cán bộ hưu trí thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2024, vì nhà cửa không được kiên cố và thường xuyên phải đi làm nên bà Đinh Thị S lấy 10 (mười) chiếc nhẫn vàng, mỗi chiếc loại 01 chỉ và có cùng đặc điểm là mặt trong của chiếc nhẫn có dòng chữ “Việt Kim Liên 9999 KIM LIÊN 1C R Q.NGAI”, đựng vào một hộp nhựa màu đỏ và lấy 01 sợi dây chuyền vàng, loại 01 chỉ, có đặc điểm là gồm những móc xích nối lại với nhau, sợi dây chuyền không có mặt, cùng với 01 chiếc lắc đeo tay bằng vàng đựng vào một hộp nhựa màu đỏ khác. Sau đó, bỏ hai hộp nhựa này vào một hộp nhựa lớn hơn rồi dùng một mảnh vải bọc xung quanh và bỏ vào bọc ni lông màu đen rồi mang tất cả số vàng này đến nhà bà Đinh Thị Đ là chị em dâu với bà S để nhờ cất giữ. Bà Đ nhận số vàng của bà S rồi mang bịch vàng do bà S đưa đi vào buồng lúa ở nhà, đi đến chỗ có ba chiếc nồi đồng xếp úp chồng lên nhau, lấy hai chiếc nồi đặt xuống đất, lấy bịch ni lông màu trắng (bịch đựng vàng của bà Đ để tại đây từ trước) mở ra rồi bỏ vào bịch đựng vàng của bà S vào chung lấy hai chiếc nồi đồng úp lại và để tại đây.

Ngày 29/4/2024, con gái bà ĐĐinh Thị T2 quen biết và dẫn Nguyễn Sinh T về nhà và ở chung nhà với bà Đ. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/5/2024, sau khi ngủ trưa tại nhà bà Đ dậy, T thấy không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại nhà bà Đ. T ôn đến buồng lúa tìm kiếm tài sản để trộm cắp, lúc này T nhìn thấy ba chiếc nồi đồng xếp úp chồng lên nhau, T lấy hai chiếc nồi phía trên xuống thì thấy có bịch ni lông màu trắng, T mở bịch này ra thì thấy có bịch ni lông màu đen, T tiếp tục mở bịch ni lông màu đen ra thì thấy bên trong có một hộp nhựa được quấn một mảnh vải xung quanh bên ngoài, T mở hộp nhựa ra xem thì thấy bên trong có hai hộp nhựa màu đỏ, T tiếp tục mở một hộp nhựa màu đỏ thì thấy bên trong có nhiều chiếc nhẫn vàng, T lén lút lấy 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng bỏ vào túi quần rồi đóng hộp lại và tiếp tục mở hộp còn lại thì thấy bên trong có nhiều vàng, T lấy 01 (một) sợi dây chuyền vàng bỏ vào túi quần rồi đóng hộp lại, gói và để lại trong nồi đồng như lúc ban đầu. T ôn ra khỏi phòng, quan sát nhà không có người, T lấy chiếc xe mô tô của Đinh Thị T2 điều khiển và mang số vàng này đến tiệm V, do anh Nguyễn Minh T3 làm chủ, bán 03 (ba) chiếc nhẫn vàng và 01 (một) sợi dây chuyền vàng vừa trộm cắp

được với giá 27.020.000đ (hai mươi bảy triệu không trăm hai mươi nghìn đồng), còn một chiếc nhẫn vàng T ôn để lại cất giữ.

Sau khi có được tiền từ việc bán số vàng trộm cắp, T mua thức ăn hết 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng), đưa cho bà Đinh Thị Đ 1.000.000đồng, lắp đặt mạng internet cho nhà bà Đ với số tiền 2.500.000đồng, đưa cho T2 10.000.000đồng; số tiền còn lại T ôn tiêu xài cá nhân. Đến ngày 05/5/2024, bà Đinh Thị S đến nhà bà Đ lấy lại số vàng đã nhờ cất giữ, mang về nhà kiểm đếm thì phát hiện mất 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng và 01 (một) sợi dây chuyền vàng loại 01 chỉ nên đã trình báo sự việc với Công an thị trấn D, huyện S. Sau khi sự việc được bà S trình báo thì T đến gặp bà S và trả lại cho bà S 01 chiếc nhẫn vàng mà T còn đang cất giữ. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an huyện S, Nguyễn Sinh T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình, giao nộp số tiền 3.500.000đồng từ việc bán vàng trộm cắp mà có.

* Kết luận giám định: Kết luận giám định số 939/KL-HĐĐGTS, ngày 19/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng niêm phong gửi giám định có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; có khối lượng mẫu là 3,749 gam (BL34).

* Kết luận định giá tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐ ĐGTS, ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 04 (bốn) chiếc nhẫn bằng kim loại vàng, có hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; có khối lượng vàng là 3,749 gam tại thời điểm tháng 5/2024 có giá là 26.800.000 đồng và 01 (một) sợi dây chuyền vàng không có mặt, gồm có nhiều mắc xích nối lại với nhau, có khối lượng 01 chỉ, tại thời điểm tháng 5/2024 có giá là 6.700.000 đồng. Tổng cộng 33.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: đối với số tiền 3.500.000đồng, đây là tiền tạm giữ do Nguyễn Sinh T bán số vàng trộm cắp được mà có.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đinh Thị S 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, có đặc điểm: mặt trong của chiếc nhẫn có dòng chữ “Việt Kim Liên 9999 KIM LIÊN 1C R Q.NGAI”.

Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS-SH ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Nguyễn Sinh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xác định Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Sinh T về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật nên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, bà Đinh Thị S đã nhận lại tài sản bị mất và bị cáo T đã bồi thường xong, bà S không yêu cầu gì về phần dân sự, nên Viện kiểm sát không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.500.000đồng do Nguyễn Sinh T bán số vàng trộm cắp được mà có do bị cáo từ chối nhận lại.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình lo cho mẹ bị đau ốm.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị hại: Về phần dân sự không yêu cầu gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Không có ý kiến gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Sinh T khai nhận toàn bộ hành vi của mình là đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/5/2024, bị cáo Nguyễn Sinh T lợi dụng lúc bà Đinh Thị Đ sơ hở mất cảnh giác đã lén lút trộm 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng loại 01 chỉ và 01 (một) sợi dây chuyền vàng loại 01 chỉ của bà Đinh Thị S nhờ bà Đ cất giữ hộ với trị giá là 33.500.000đồng (ba mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng). Vì vậy,
  3. hành vi của bị cáo Nguyễn Sinh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

    Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Nguyễn Sinh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

  4. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, nhưng vì lòng tham nhất thời muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện.
  5. [4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 02/02/2023 bị cáo T bị Công an huyện P, tỉnh Bình Định xử phạt hành chính với số tiền 6.500.000đồng về hành vi cố ý gây thương tích; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường xong phần dân sự cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. [5] Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  7. [6] Đối với ông Nguyễn Minh T3 là chủ tiệm V, ông T3 hoàn toàn không biết số vàng bị cáo Nguyễn Sinh T bán là do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S không xem xét xử lý hành vi của ông T3 về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên không xem xét.
  8. Đối với bà Đinh Thị Đ, bà Đinh Thị T2 hoàn toàn không biết số tiền bị cáo T đưa là tài sản do T trộm cắp mà có, nên hành vi của bà Đ và bà T2 không đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên không xem xét.

  9. [7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  10. [8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, bị cáo T bồi thường xong cho bị hại và bị hại không còn yêu cầu gì về phần dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  11. [9] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 3.500.000đồng, đây là tiền do Nguyễn Sinh T bán số vàng trộm cắp được mà có, tại phiên tòa bị cáo từ chối nhận lại nên Hội đồng xét xử thấy cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  12. [10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  13. [11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  14. [12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sinh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2024.

  3. Về vật chứng: Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.500.00đồng phản ảnh tại Ủy nhiệm chi ngày 18/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hà.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Sinh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết tại Ủy ban nhân dân N.

Nơi nhận:

  • - Cơ quan CSĐT - Công an huyện S;
  • - Cơ quan THAHS – Công an huyện S;
  • - VKSND huyện S
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - THADS huyện Sơn Hà;
  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trần Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sinh T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger