TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26-7-2024.
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hữu Tỷ và ông Lý Văn Hòe.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà My – Thư ký Tòa án
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Bạch Đình Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Sùng Thị S, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
Bị đơn: Anh Hàng A S, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Anh Hàng Seo Th, sinh năm 1985; địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P1, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lời khai có trong hồ sơ và tại phiên Tòa nguyên đơn chị Sùng Thị S trình bày:
Chị chung sống với anh Hàng A S vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc; đến ngày 19/8/2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đắk Som. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, khoảng từ cuối năm 2023 đến nay thì xảy ra mâu thuẫn, do anh S không chung thủy và có hành vi bạo lực gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn, vì vậy chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hàng A S.
Về con chung: Thời gian sống chung anh chị có 02 con chung là Hàng Thanh Q, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn M, sinh ngày 20/10/2018. Chị S có yêu cầu giao 02 con chung cho anh S chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên Tòa bị đơn anh Hàng A S trình bày: Anh chung sống với chị S vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc, đến ngày 19/8/2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đắk Som. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, từ năm 2023 vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn, hai bên có nhờ cha mẹ hòa giải và có lập bản cam kết hòa giải với nhau. Từ đó cuộc sống chung vợ chồng bình thường không có gì xảy ra. Hiện nay vợ chồng vẫn sống chung với nhau, anh S vẫn còn yêu thương vợ con, mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn với chị Sùng Thị S.
Về con chung: Thời gian sống chung với nhau có 02 con chung là Hàng Thanh Q, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn M, sinh ngày 20/10/2018; anh đồng ý giao cháu Q và cháu M cho anh nuôi và chị S không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Hàng Thanh Q trình bày: Cháu là con ruột của bố Hàng A S và mẹ Sùng Thị S, bố mẹ thường xuyên có mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau nguyên nhân cháu không biết. Nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được sống chung với bố.
Tại phiên Tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn anh Hàng Seo Th trình bày: Đề nghị HĐXX xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sùng Thị S, giải quyết cho chị Sùng Thị S được ly hôn với Hàng A S; về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Hàng Thanh Q, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn M, sinh ngày 20/10/2018 cho anh Hàng A S chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Sùng Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và quyền nuôi con với anh Hàng A S nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn anh Hàng A S cư trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Sùng Thị S, HĐXX xét thấy.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Sùng Thị S và anh Hàng A S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk Som vào ngày 19/8/2019. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù anh Hàng A S không đồng ý ly hôn nhưng trên cơ sở lời khai của chị Sùng Thị S, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. HĐXX thấy rằng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, anh không chung thủy có hành vi bạo lực gia đình. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh S đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị S cũng không còn tình cảm với anh S nữa. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S về việc xin được ly hôn với anh S.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống chị Sùng Thị S và anh Hàng A S có 02 con chung là Hàng Thanh Quang, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn Minh, sinh ngày 20/10/2018. Trên cơ sở nguyện vọng của cháu Hàng Thanh Q muốn sống cùng bố; cháu Hàng Văn M đang ở cùng anh S, để đảm bảo các cháu được chăm sóc tốt nhất HĐXX quyết định giao các cháu Hàng Thanh Q, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn M, sinh ngày 20/10/2018 cho anh Hàng A S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong về nội dung vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị Sùng Thị S được miễn án phí hôn nhân gia đình.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 12, 14 và 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sùng Thị S.
- Về hôn nhân: Chị Sùng Thị S được ly hôn với anh Hàng A S.
- Về con chung: Giao 02 con chung Hàng Thanh Q, sinh ngày 26/9/2014 và Hàng Văn M, sinh ngày 20/10/2018 cho anh Hàng A S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở thực hiện quyền này. Trường hợp các bên lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
- Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu giải quyết
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Sùng Thị S được miễn án phí hôn nhân, gia đình theo Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn do mâu thuẫn gia đình
