|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/KDTM-ST Ngày: 26/4/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Công Danh;
- Ông Huỳnh Thế Cần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 32/2023/TLST-KDTM, ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXX-ST ngày 22/01/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QĐST-KDTM ngày 19/02/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 59/2024/QĐST-KDTM ngày 19/3/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 180/TB-TA ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần V1 (V);
Địa chỉ: Lô C, đường B, KCN V, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Hồng Đ – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Ngọc Lan P – Nhân viên (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/12/2022).
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần W1 (W);
Địa chỉ: Trong khuôn viên Đ2, km 13, Quốc lộ E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Trần Văn T – Tổng giám đốc.
(Bà P có đơn xin xét xử vắng mặt; Công ty Cổ phần W1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 23/4/2024, nguyên đơn Công ty Cổ phần V1 (V) do người đại diện theo ủy quyền bà Đỗ Ngọc Lan P trình bày:
Công ty Cổ phần V1 (V) và Công ty Cổ phần W1 (W) có thỏa thuận trong đó V là người bán và W là người mua các mặt hàng Cám mì, Bột mì, Đường trắng. Thỏa thuận có thể được thực hiện thông qua đặt hàng trực tiếp cho nhân viên công ty hoặc qua Hợp đồng kinh tế. Trong đó, W sẽ thanh toán cho V 100% trị giá tính theo từng đợt giao hàng chậm nhất 30 ngày kể từ ngày nhập kho và xuất hóa đơn.
1. Hợp đồng kinh tế số 341/2021/VNKN-WG:
Ngày 18/02/2021, V và W ký Hợp đồng kinh tế số 310/2020/VNKN-WG V bán cho W số lượng tương đương 200.000 kg Cám mì, đơn giá: 6.750 đồng/kg, tổng giá trị hợp đồng là 1.350.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng). V đã giao hàng cho W tổng cộng: 204.996 kg. Tổng tiền hàng là 1.383.723.000 đồng. W đã thanh toán tổng cộng: 591.015.000 đồng. Tổng số tiền W còn phải trả cho V: 792.708.000 đồng.
Bảng kê chi tiết số lượng các lần giao hàng, hóa đơn, Giấy báo có, số tiền còn phải thanh toán:
| STT | Phiếu xuất kho | Hóa đơn | Ngày hóa đơn | Hàng hóa | Số lượng (kg) | Tổng số tiền | Thanh toán | Số tiền còn thanh toán (đồng) | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giấy báo có | Số tiền đã thanh toán (đồng) | ||||||||
| 1 | XB/21-02-1782 | 22936 | 27/02/2021 | Cám mì | 16.912 | 114.156.000 | 27/5/2021 | 114.156.000 | - |
| 2 | XB/21-03-0372 | 23138 | 04/3/2021 | Cám mì | 16.982 | 114.628.500 | 09/6/2021 | 114.628.500 | - |
| 3 | XB/21-03-0373 | 23139 | 04/3/2021 | Cám mì | 17.968 | 121.284.000 | 16/6/2021 | 121.284.000 | - |
| 4 | XB/21-03-0449 + XB/21-03-0450 | 23234 | 07/3/2021 | Cám mì | 29.820 | 201.285.000 | 08/3/2021 | 120.000.000 | 81.285.000 |
| 05/4/2021 | |||||||||
| 5 | XB/21-03-0565 | 23330 | 09/3/2021 | Cám mì | 17.918 | 120.946.500 | 28/6/2021 | 120.946.500 | - |
| 6 | XB/21-03-0688 | 23376 | 10/03/2021 | Cám mì | 17.948 | 121.149.000 | - | - | 121.149.000 |
| 7 | XB/21-03-0821 + XB/21-03-0822 | 23571 | 13/3/2021 | Cám mì | 29.880 | 201.690.000 | - | - | 201.690.000 |
| 8 | XB/21-03-1251 | 23716 | 18/3/2021 | Cám mì | 27.738 | 187.231.500 | - | - | 187.231.500 |
| 9 | XB/21-03-1535 + XB/21-03-1536 | 23854 | 22/3/2021 | Cám mì | 29.830 | 201.352.500 | - | - | 201.352.500 |
| Tổng cộng | 204.996 | 1.383.723.000 | 591.015.000 | 792.708.000 | |||||
Khi xe giao hàng của V giao đến kho W tại địa chỉ Trong khuôn viên ICD Đ, KM A, Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, W sẽ cho cân xe và xuất Phiếu cân xe xác nhận trong lượng hàng hoá trước khi nhập kho. Đây là bằng chứng cho việc W đã nhận hàng mà V giao. Tương ứng với Phiếu xuất kho và Hoá đơn mà V đã xuất là các Phiếu cân xe do W phát hành như sau:
| Phiếu xuất kho | Ngày xuất phiếu | Số hóa đơn | Ngày hóa đơn | STT Phiếu cân xe của Wagon | Phiếu cân xe |
|---|---|---|---|---|---|
| XB/21-03-0449 | 05/3/2021 | 23234 | 07/3/2021 | 5 | 06/3/2021 |
| XB/21-03-0450 | |||||
| XB/21-03-0688 | 09/3/2021 | 23376 | 10/3/2021 | 17 | 10/3/2021 |
| XB/21-03-0821 | 11/3/2021 | 23517 | 13/3/2021 | 3 | 12/3/2021 |
| XB/21-03-0822 | |||||
| XB/21-03-1251 | 16/3/2021 | 23716 | 18/3/2021 | 3 | 17/3/2021 |
| XB/21-03-1535 | 20/3/2021 | 23854 | 22/3/2021 | 4 | 22/3/2021 |
| XB/21-03-1536 |
Sau khi nhận hàng, W thanh toán chậm trễ, và quá hạn so với quy định trong hợp đồng (W sẽ thanh toán cho V 100% trị giá tính theo từng đợt giao hàng chậm nhất 30 ngày kể từ ngày nhập kho và xuất hóa đơn).
2. Các đơn hàng lẻ mà W đặt hàng trực tiếp qua nhân viên công ty (Không lập hợp đồng):
Mặt hàng: Đường trắng;
Tổng số lượng: 3.000 kg;
Tổng tiền hàng: 54.285.001 đồng;
W đã thanh toán tổng cộng: 0 đồng;
Tổng số tiền W còn phải trả cho V: 54.285.001 đồng
Bảng kê chi tiết:
| STT | Phiếu xuất kho | Hóa đơn | Ngày hóa đơn | Hàng hóa | Số lượng (kg) | Tổng số tiền | Số tiền đã thanh toán (đồng) | Số tiền còn thanh toán (đồng) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | XB/21-05-1969 | 27124 | 21/5/2021 | Đường trắng | 500 | 8.750.0001 | - | 8.750.0001 |
| 2 | XB/21-06-0736 | 28208 | 08/6/2021 | Đường trắng | 1.000 | 17.500.000 | - | 17.500.000 |
| 3 | XB/21-06-2401 | 29178 | 23/6/2021 | Đường trắng | 1.500 | 28.035.000 | - | 28.035.000 |
| Tổng cộng | 3.000 | 54.285.001 | 54.285.001 | |||||
3. Hợp đồng kinh tế số 374/2021/VNKN-WG:
Vikybomi Corp và Wagon có ký kết hợp đồng số 374/2021/VNKN-WG, tuy nhiên hiện tại Vikybomi Corp không giữ bản gốc của Hợp đồng này. Nhân viên trực tiếp giao dịch và lập hợp đồng cũng đã nghỉ việc và không tìm lại được bản gốc.
Theo hợp đồng số 374/2021/VNKN-WG, V đã giao hàng cho W mặt hàng Cám mì, số lượng 29.990 kg, đơn giá: 6.700 đồng/kg, tổng giá trị đợt giao hàng này là 200.933.000 đồng. Wagon đã thanh toán tổng cộng: 0 đồng. Tổng số tiền W còn phải trả cho V: 200.933.000 đồng.
Bảng kê chi tiết:
| STT | Phiếu xuất kho | Hóa đơn | Ngày hóa đơn | Hàng hóa | Số lượng (kg) | Tổng số tiền | Số tiền đã thanh toán (đồng) | Số tiền còn thanh toán (đồng) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | XB/21-06-1837 | 28668 | 15/6/2021 | Cám mì | 29.990 | 200.933.000 | - | 200.933.000 |
Khi xe giao hàng của V giao đến kho W tại địa chỉ Trong khuôn viên ICD Đ, KM A, Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, W sẽ cho cân xe và xuất Phiếu cân xe xác nhận trong lượng hàng hoá trước khi nhập kho. Đây là bằng chứng cho việc W đã nhận hàng mà V giao. Tương ứng với Phiếu xuất kho và Hoá đơn mà V đã xuất là các Phiếu cân xe do W phát hành như sau:
| Phiếu xuất kho | Ngày xuất phiếu | Số hóa đơn | Ngày hóa đơn | STT Phiếu cân xe của Wagon | Phiếu cân xe | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|
| XB/21-06-1837 | 16/6/2021 | 28668 | 15/6/2021 | 6 | 15/6/2021 | Xe 51C 91473 nhận hàng của Vikubomi Corp lưu tại kho Công ty Bột mì Bình Đông và giao cho Wagon ngày 15/6/2021, Vikubomi Corp làm thủ tục xuất phiếu nội bộ ngày 16/6/2021 |
Cho đến thời điểm hiện tại, W vẫn chưa thanh toán số tiền hàng trên cho V Corp.
Như vậy, tổng số tiền mà W phải trả cho V là 792.708.000 đồng + 54.285.001 đồng + 200.933.000 đồng = 1.047.926.001 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn không trăm lẻ một đồng).
Vikybomi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu thanh toán nhưng W cố tình trì hoãn nghĩa vụ thanh toán cũng như không ký xác nhận đối chiếu công nợ với V.
Xét thấy hành vi trốn tránh nghĩa vụ thanh toán của Công ty Cổ phần W1 (W) gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Công ty Cổ phần V1 (V), do đó, Công ty Cổ phần V1 (V) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần W1 (W) có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền sau:
- Tiền hàng là 1.047.926.001 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn không trăm lẻ một đồng).
- Tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 20%/năm (Từ 01/08/2021-30/11/2022) là 278.329.146 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm hai mươi chín ngàn một trăm bốn mươi sáu đồng). Lãi suất phát sinh do chậm thanh toán được xác định không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, tức không quá 20%/năm của khoản tiền chậm thanh toán.
Bị đơn Công ty Cổ phần W1 (W) đã được tống đạt (niêm yết) hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về việc cung cấp tài liệu chứng cứ, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu các quy định của pháp luật; có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Công ty Cổ phần V1 (V) khởi kiện Công ty Cổ phần W1 W) trả số tiền hàng còn nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định Công ty Cổ phần V1 (V) là nguyên đơn, Công ty Cổ phần W1 (W) là bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005 (sửa đổi năm 2017, 2019), quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Công ty Cổ phần W1 (W) có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V1 (V) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về thủ tục tố tụng khác: Bà Đỗ Ngọc Lan P có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận; Công ty Cổ phần W1 (W) đã được tống đạt (niêm yết) hợp lệ 02 lần (quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và quyết định hoãn phiên tòa, thông báo mở lại phiên tòa) nhưng vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của Công ty Cổ phần V1 (V) về số nợ gốc:
Công ty Cổ phần V1 (V) và Công ty Cổ phần W1 (W) ký Hợp đồng kinh tế số 341/2021/VNKN-WG mua bán Cám mì số lượng 200.000 kg, Hợp đồng kinh tế số 374/2021/VNKN-WG mua bán Cám mì số lượng 29.990 kg và Các đơn hàng lẻ đặt hàng trực tiếp qua nhân viên công ty (không lập hợp đồng) mua bán Đường trắng số lượng 3.000 kg. Theo trình bày của người đại diện nguyên đơn, quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên thì W mới chỉ thanh toán được số tiền 591.015.000 đồng, còn nợ 1.047.926.001 đồng.
Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở Công ty Cổ phần W1 (W) thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần V1 (V) nhưng W vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù đã quá hạn thanh toán. Xét thấy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần W1 (W) phải thanh toán số tiền hàng còn nợ 1.047.926.001 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn không trăm lẻ một đồng) là phù hợp với hợp đồng mua bán các bên đã ký. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nợ gốc của nguyên đơn.
2.2. Xét yêu cầu về tiền lãi:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần V1 (V) yêu cầu Công ty Cổ phần W1 (W) trả tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 01/8/2021 đến ngày 30/11/2022) là 278.329.146 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm hai mươi chín ngàn một trăm bốn mươi sáu đồng). Căn cứ tính lãi suất phát sinh do chậm thanh toán được xác định không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, tức không quá 20%/năm của khoản tiền chậm thanh toán.
Do các bên không thỏa thuận về mức lãi suất cụ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa nên căn cứ vào Điều 306 Luật Thương mại 2005 (sửa đổi năm 2017, 2019) thì tiền lãi do chậm thanh toán sẽ được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán được hướng dẫn chi tiết tại Điều 11 Nghị quyết 01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Theo đó, Tòa án sẽ căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1, Ngân hàng N1,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền lãi chậm thanh toán mặc dù viện dẫn căn cứ không đúng quy định và mức tính lãi suất cao hơn quy định nhưng chỉ tính từ ngày 01/8/2021 đến ngày 30/11/2022 là 278.329.146 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm hai mươi chín ngàn một trăm bốn mươi sáu đồng) là có lợi cho bị đơn nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo giá ngạch là
[4] Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35, 39, 147, 266, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 3, 50, 55, 306 Luật Thương mại 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V1 (V) về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Buộc Công ty Cổ phần W1 (W) phải trả cho Công ty Cổ phần V1 (V) tổng số tiền 1.326.255.146 đồng), trong đó: Tiền nợ gốc là 1.047.926.001 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn không trăm lẻ một đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán (từ ngày 01/08/2021 đến ngày 30/11/2022) là 278.329.146 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm hai mươi chín ngàn một trăm bốn mươi sáu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Khoản 2, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
2. Về án phí: Bị đơn Công ty Cổ phần W1 (W) phải chịu 51.787.654 đồng (Năm mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm năm mươi tư đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí Công ty Cổ phần V1 (V) đã nộp 21.719.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006603 ngày 13/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Thị Hoà |
Bản án số 10/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 10/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
