|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2024/HNGĐ-PT Ngày 25 tháng 4 năm 2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thu Huyền;
Ông Nguyễn Viết Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 05/2024/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2023/HNGĐ-ST ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1980
- Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ;
- - Bị đơn: Ông Vi Văn L, sinh ngày 11/12/1964
- Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- Người kháng cáo: Ông Vi Văn L – là bị đơn.
(Bà T, ông L đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân:
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 5 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Thị T trình bày:
Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L đăng ký kết hôn vào ngày 09/9/2013 tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không cùng quan điểm sống, cho đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn bà T xin được ly hôn với ông L để giải phóng cho nhau.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 30/6/2023:
Ông Vi Văn L trình bày, ông thừa nhận lời trình bày của bà T về thời gian kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn như bà T trình bày là đúng, vợ chồng ông đã sống ly thân từ tháng 10/2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà T xin ly hôn ông cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung:
Bà T và ông L đều xác nhận vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung:
Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L đều xác định vợ chồng có tài sản chung và giá trị đã được định giá của Hội đồng định giá, cụ thể như sau:
Thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu A (nay là khu Đ), xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, diên tích 511,8m² (Đất ở nông thôn: 100m², đất trồng cây lâu năm: 411,8 m²) đo đạc thực tế là 491,8m² đất. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có giá là 138.360.000đồng (Một trăm ba mươi tám triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 có 05 gian diện tích 103,5m² có giá 103.500.000đ (Một trăm linh ba triệu năm trăm nghìn đồng) mái lợp blôximăng sườn gỗ, trần nhựa, tường xây gạch chỉ, nền lát gạch men; 01 nhà vệ sinh có diện tích 9,4m² có giá 30.080.000₫ (Ba mươi triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); 01 bếp có diện tích 23,9m² có giá 9.560.000₫ (Chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 chuồng trại có diện tích 26,9m² có giá 8.070.000đ (Tám triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 102,2m² có giá 17.374.000đ (Mười bảy triệu ba trăm bảy mươi tư nghìn đồng); T1 rào xây bằng gạch chỉ có chiều dài 25,97m có giá 5.155.200đ (Năm triệu một trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng). Tổng trị giá là 312.099.200đồng (Ba trăm mười hai triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm đồng)
Ngoài các tài sản trên bà T và ông L không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết tài sản chung nào khác.
Ly hôn bà T có nguyện vọng xin được sở hữu và sử dụng phần đất có 01 gian nhà phía giáp nhà vệ sinh, cùng nhà vệ sinh, 01 bếp; 01 chuồng trại; 01 phần sân lát gạch nung đỏ trên thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 đứng tên ông Vi Văn L và bà Bùi Thị T.
Phía ông Vi Văn L có quan điểm đề nghị Tòa án chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung và công sức đóng góp: Bà T và ông L đều xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Bản án sơ thẩm số: 01/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ Điều 55, Điều 33, 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3, 4 điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Xử:
- [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị T và ông Vi Văn L.
- [2]. Về con chung: Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L thống nhất xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
[3]. Về tài sản chung;
Giao cho bà Bùi Thị T được quyền sở hữu và sử dụng phần đất theo chỉ giới 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16, 3 có diện tích là 295,3 m² ký hiệu là S1 như sơ đồ hiện trạng kèm theo (trong đó có 50 m² đất ở và 245,3m² đất vườn) có giá trị 79.060.000 đồng (giá trị đất ở là 30.000.000đồng và đất vườn là 49.060.000đồng). Trên đất có 01 gian nhà cấp 4 diện tích 20,6 m² có giá 20.600.000₫ (Hai mươi triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 nhà vệ sinh có diện tích 9,4m² có giá 30.080.000đ (Ba mươi triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); 01 bếp có diện tích 23,9m² có giá 9.560.000₫ (Chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 chuồng trại có diện tích 26,9m² có giá 8.070.000đ (Tám triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 16 m² có giá 2.720.000₫ (Hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng); T1 rào xây bằng gạch chỉ có chiều dài 25,97m có giá 5.155.200đ (Năm triệu một trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng) và toàn bộ cây cối lâm lộc trên đất 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có tổng trị giá là 155.245.200đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm đồng) đứng tên ông Vi Văn L và bà Bùi Thị T. Các tài sản trên đất bà T được sở hữu và sử dụng không bao gồm bức tường nhà xây giáp ranh giới giữa phần nhà của bà T và phần nhà của ông L (bức tường này nằm trên phần đất của ông L được giao). Bà T tự có trách nhiệm xây dựng bức tường nhà phía giáp nhà của ông L và nhà của bà T để đảm bảo công năng sử dụng của gian nhà mà bà T được giao.
Giao cho ông Vi Văn L được quyền sở hữu và sử dụng phần đất theo chỉ giới 3, 16, 12, 13, 14, 15, 1, 2, 3 có diện tích là 196,5m² ký hiệu là S2 như sơ đồ hiện trạng kèm theo (trong đó có 50 m² đất ở và 146,5m² đất vườn) có giá trị 59.300.000đồng (giá trị đất ở là 30.000.000đồng và đất vườn là 29.300.000đồng). Trên đất có 04 gian nhà cấp 4 diện tích 82,9m² có giá 82.900.000₫ (Tám mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 86,2m² có giá 14.654.000đ (Mười bốn triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn đồng) trên thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có tổng trị giá là 156.854.000đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn đồng) đứng tên ông Vi Văn L và bà Bùi Thị T. Các tài sản trên đất ông L được sở hữu và sử dụng bao gồm cả bức tường nhà giáp ranh giới phần nhà, đất của bà T được giao.
Ông L không phải thanh toán chênh lệch về giá trị tài sản cho bà T do bà T tự nguyện không yêu cầu.
Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao ở trên theo quy định của pháp luật.
- [4]. Về công nợ, công sức đóng góp: Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L thống nhất xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 18 tháng 12 năm 2023, bị đơn ông Vi Văn L có đơn kháng cáo với nội dung:
- Về tài sản chung là nhà ở, bếp và đất vườn: đề nghị Tòa án chia cho ông và bà Bùi Thị T mỗi người một nửa;
- Về nợ chung: Ông và bà Bùi Thị T có cùng vay của con trai ông số tiền 35 triệu đồng để mua đất và nhà nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết;
- Ngoài ra ông đã nộp 10 triệu tiền đóng góp làm đường bê tông xóm năm 2019, đề nghị Tòa án giải quyết về khoản tiền này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vi Văn L, giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Vi Văn L là quá hạn nhưng đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ chấp nhận kháng cáo quá hạn tại Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 01/2024/QĐ-PT ngày 05/01/2024 nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
[2] Về nội dung kháng cáo:
-
[2.1] Về chia tài sản chung:
Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L thống nhất xác định vợ chồng có tài sản chung gồm: Thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu A (nay là khu Đ), xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, diên tích 511,8m² (Đất ở nông thôn: 100m², đất trồng cây lâu năm: 411,8m²) đo đạc thực tế là 491,8m² đất. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có giá là 138.360.000đồng (Một trăm ba mươi tám triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 103,5m² có giá 103.500.000đ (Một trăm linh ba triệu năm trăm nghìn đồng) mái lợp blôximăng sườn gỗ, trần nhựa, tường xây gạch chỉ, nền lát gạch men; 01 nhà vệ sinh có diện tích 9,4m² có giá 30.080.000₫ (Ba mươi triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); 01 bếp có diện tích 23,9m² có giá 9.560.000đ (Chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 chuồng trại có diện tích 26,9m² có giá 8.070.000₫ (Tám triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 102,2m² có giá 17.374.000đ (Mười bảy triệu ba trăm bảy mươi tư nghìn đồng); T1 rào xây bằng gạch chỉ có chiều dài 25,97m có giá 5.155.200đ (Năm triệu một trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng). Tổng trị giá là 312.099.200 đồng (Ba trăm mười hai triệu không trăm chín mươi chín nghìn hai trăm đồng).
Xét thấy: thửa đất số 121 nằm giáp đường giao thông, nếu chia thửa đất làm 02 phần vẫn có thể bảo đảm có lối đi riêng vào từng phần diện tích đất. Khi ly hôn, cả 2 bên đều có nguyện vọng xin được sử dụng, sở hữu một phần đất và tài sản trên đất để có nơi ở ổn định cuộc sống vì không có nơi ở nào khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chia tài sản chung của bà T, ông L là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất bằng hiện vật là phù hợp.
Trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 05 gian, 01 bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 chuồng gà và sân gạch. Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cho bà Bùi Thị T được quyền sở hữu và sử dụng phần diện tích đất 295,3 m² (trong đó có 50 m² đất ở và 245,3m² đất vườn) trên đất có 01 gian nhà cấp 4 diện tích 20,6 m², 01 nhà vệ sinh, 01 bếp, 01 chuồng gà và 01 phần sân; giao cho ông Vi Văn L được quyền sở hữu và sử dụng phần diện tích 196,5m² đất (trong đó có 50 m² đất ở và 146,5m² đất vườn) trên đất có 04 gian nhà cấp 4 và 01 phần sân là phù hợp với hiện trạng sử dụng tài sản sau khi bà T, ông L ly thân, nguyện vọng của đương sự và công năng sử dụng thực tế của tài sản.
Ông L kháng cáo đề nghị Tòa án chia đôi nhà ở, đất vườn và bếp mỗi người được quyền sở hữu, sử dụng một nửa là không phù hợp, không đảm bảo được công năng sử dụng của tài sản và việc ổn định cuộc sống của hai bên đương sự sau khi ly hôn. Tại phiên tòa phúc thẩm, bản thân ông L cũng thừa nhận nếu chia đất và tài sản trên đất mỗi người một nửa theo chiều dọc của thửa đất như nội dung kháng cáo của ông thì ngôi nhà cấp 4 sẽ không thể sử dụng được, đồng thời phải tháo dỡ các công trình phụ là bếp và nhà vệ sinh. Do đó, nội dung kháng cáo này của ông Vi Văn L không được chấp nhận.
-
[2.2] Về nợ chung và tiền làm đường bê tông xóm:
Ông Vi Văn L kháng cáo yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ chung của vợ chồng ông vay con trai ông 35 triệu đồng và khoản tiền 10 triệu đồng ông đã nộp để làm đường bê tông xóm.
Xét thấy: Trong toàn bộ quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, ông Vi Văn L xác định vợ chồng không có nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông cũng không đề nghị giải quyết về khoản tiền 10 triệu đồng ông đã nộp để làm đường bê tông xóm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết về các nội dung này là đúng. Do nội dung kháng cáo này của ông L không được giải quyết tại cấp sơ thẩm nên không nằm trong phạm vi xem xét, giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Vi Văn L, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
[2.1] Về chia tài sản chung:
- [3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Vi Văn L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Vi Văn L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ Điều 55, Điều 33, 59, 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3, 4 điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Xử:
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L.
- [2] Về con chung: Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L thống nhất xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
[3] Về tài sản chung;
Giao cho bà Bùi Thị T được quyền sở hữu và sử dụng phần đất theo chỉ giới 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16, 3 có diện tích là 295,3 m² ký hiệu là S1 như sơ đồ hiện trạng kèm theo (trong đó có 50 m² đất ở và 245,3m² đất vườn) có giá trị 79.060.000 đồng (giá trị đất ở là 30.000.000đồng và đất vườn là 49.060.000đồng). Trên đất có 01 gian nhà cấp 4 diện tích 20,6 m² có giá 20.600.000₫ (Hai mươi triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 nhà vệ sinh có diện tích 9,4m² có giá 30.080.000đ (Ba mươi triệu không trăm tám mươi nghìn đồng); 01 bếp có diện tích 23,9m² có giá 9.560.000₫ (Chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 chuồng trại có diện tích 26,9m² có giá 8.070.000đ (Tám triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 16 m² có giá 2.720.000₫ (Hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng); T1 rào xây bằng gạch chỉ có chiều dài 25,97m có giá 5.155.200đ (Năm triệu một trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng) và toàn bộ cây cối lâm lộc trên thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có tổng trị giá là 155.245.200đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm đồng) đứng tên ông Vi Văn L và bà Bùi Thị T. Các tài sản trên đất bà T được sở hữu và sử dụng không bao gồm bức tường nhà xây giáp ranh giới giữa phần nhà của bà T và phần nhà của ông L (bức tường này nằm trên phần đất của ông L được giao). Bà T tự có trách nhiệm xây dựng bức tường nhà phía giáp nhà của ông L và nhà của bà T để đảm bảo công năng sử dụng của gian nhà mà bà T được giao.
Giao cho ông Vi Văn L được quyền sở hữu và sử dụng phần đất theo chỉ giới 3, 16, 12, 13, 14, 15, 1, 2, 3 có diện tích là 196,5m² ký hiệu là S2 như sơ đồ hiện trạng kèm theo (trong đó có 50 m² đất ở và 146,5m² đất vườn) có giá trị 59.300.000đồng (giá trị đất ở là 30.000.000đồng và đất vườn là 29.300.000đồng). Trên đất có 04 gian nhà cấp 4 diện tích 82,9m² có giá 82.900.000₫ (Tám mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng); 01 sân lát gạch nung đỏ có diện tích 86,2m² có giá 14.654.000đ (Mười bốn triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn đồng) trên thửa đất số 121, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số CL 411615 ngày 13/3/2018 có tổng trị giá là 156.854.000đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu tám trăm năm mươi tư nghìn đồng) đứng tên ông Vi Văn L và bà Bùi Thị T. Các tài sản trên đất ông L được sở hữu và sử dụng bao gồm cả bức tường nhà giáp ranh giới phần nhà, đất của bà T được giao.
Ông L không phải thanh toán chênh lệch về giá trị tài sản cho bà T do bà T tự nguyện không yêu cầu.
Ranh giới giữa hai thửa đất được xác định bằng 02 đoạn thẳng nối với nhau từ điểm 3 đến điểm 16 và từ điểm 16 đến điểm 12 (Có bản trích đo hiện trạng thửa đất kèm theo).
Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao ở trên theo quy định của pháp luật.
- [4] Về công nợ, công sức đóng góp: Bà Bùi Thị T và ông Vi Văn L thống nhất xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- [5] Về án phí phúc thẩm: Ông Vi Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0004787 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 10/2024/HNGĐ-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 10/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị T - Vi Văn L - Tranh chấp hôn nhân và gia đình
