Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/02/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý– Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 317/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Thị Nhật H, sinh năm 1996; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn: Bùi Văn H, sinh năm 1994; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người làm chứng:

+ Phan Thị P, sinh năm 1954; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thị Nhật H trình bày: Bà Lê Thị Nhật H và ông Bùi Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thành vào ngày 17/01/2019. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng không H hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống, không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Lê H, sinh ngày 26/10/2019. Lâu nay, con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Bùi Lê H. Hiện nay, bà H là nhân viên phòng kiểm nghiệm thu nhập bình quân mỗi tháng 7.000.000đ nên đủ khả năng nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Bà H không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Bùi Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn, người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, vì mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao 01 con chung tên Bùi Lê H, sinh ngày 26/10/2019 cho nguyên đơn bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn Th, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thị Nhật H và bị đơn Bùi Văn H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 17/01/2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân xã S tại biên bản xác minh ngày 17/12/2024.

Ý kiến bà Phan Thị P là mẹ ruột của bị đơn cho biết hai vợ chồng bà H và ông H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà H và ông H đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Nhật H như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Lê H, sinh ngày 26/10/2019, hiện do nguyên đơn đang nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu H lâu nay do nguyên đơn nuôi dưỡng, cháu Huân còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Để tạo điều kiện cho cháu H phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu H cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.

[2.4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Nhật H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 BLTTDS;

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Nhật H.

  1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thị Nhật H được ly hôn với bị đơn Bùi Văn H.
  2. Về con chung: Giao 01 con chung Bùi Lê H, sinh ngày 26/10/2019 cho nguyên đơn Lê Thị Nhật H trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn Bùi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Nhật H phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001161 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - CC THADS huyện Tây Hòa;
  • - VKSND huyện Tây Hòa;
  • - UBND xã Hòa Thành, thị xã Đông H, tỉnh Phú Yên;
  • - CNKH số 09/2019);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Kim Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tanh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger