Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phượng và bà Hoàng Thị Lệ Hằng.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/HSST, ngày 15/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 09/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng M; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 18/07/1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công B và bà Trần Thị L; có vợ Nguyễn Thị Thu H, có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  2. Phan Văn S; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 06/8/1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn M1 và bà Nguyễn Thị H1 (chết); có vợ Nguyễn Thị Tú A, có 01 con sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  3. Nhân thân: Năm 2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, mức phạt 2.500.000đồng, đã chấp hành xong ngày 15/11/2019.

  4. Trần Viết H2; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 08/10/1988 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T và bà Võ Thị H3; có vợ Nguyễn Thị Minh H4, con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
  5. Trần Anh Đ; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 10/5/1982 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M2; có vợ Phan Thị Thanh T2, có 03 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023 đến ngày 26/12/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đoàn Ngọc Đ1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Cháu Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 09/6/2008. Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, Hoàng M đến quán C1 ở thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do anh Đoàn Ngọc Đ1 làm chủ đề uống cà phê thì gặp Trần Viết H2 và Phan Văn S cũng đang uống cà phê. Sau đó, Hoàng M, Trần Viết H2, Phan Văn S cùng nhau sử dụng bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở quán đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức đánh bài “Binh 9 cây tổ”.

Cách thức đánh bài “Binh 09 cây tổ” được các đối tượng giao kèo như sau: Người làm cái sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá chia đều cho các người chơi, mỗi người chơi được nhận 9 lá bài. Người chơi sau khi nhận bài thì sắp xếp 09 cây bài thành 03 chi, mỗi chi có 03 lá bài. Tùy vào cách đánh của người chơi, các chi được bố trí và có tên gọi, giá trị như sau:

  • Chi “xam” là chỉ có giá trị lớn nhất khi cả 03 lá bài cùng giá trị; Chi “ba tiên” nhỏ hơn chỉ “xam” khi có 03 lá bài có các ký tự J, Q, K;
  • Chỉ “chín điểm cặp” nhỏ hơn chỉ “ba tiên” khi có 02 lá bài cùng giá trị và tổng của 03 lá bài là 9 điểm;
  • Chỉ “tính điểm” có giá trị nhỏ hơn chỉ “chín điểm cặp” khi cả 03 lá bài không có giá trị trùng nhau và không thuộc các trường hợp đã nêu ở trên.

Các lá bài từ 02 đến 10 được tính số điểm tương ứng với số điểm ghi trên lá bài, các lá bài ký tự J, Q, K có giá trị 0 điểm, lá bài ký A có giá trị 01 điểm.

Trước khi bắt đầu chơi, mỗi người đặt mậu với số tiền 20.000đồng, sau khi chia đủ bài thì người chơi được tố thêm tiền, mức thấp nhất là 20.000đồng, mức cao nhất là 500.000 đồng, ai không theo thì bỏ bài thua số tiền đã bỏ ra đặt cược, ai theo thì có quyền tố thêm trong hạn mức từ 20.000 đồng đến 500.000đồng. Nếu không có ai đánh thêm thì mỗi người tự mở bài của mình rồi so sánh với những người chơi còn lại, ai có bài cao nhất sẽ thắng toàn bộ số tiền mậu, số tiền đã tố và đánh lại ván mới.

Hoàng M, Trần Viết H2, Phan Văn S đánh với nhau liên tục nhiều ván, đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì có thêm Trần Anh Đ đến cùng tham gia đánh. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an xã P phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 9.410.000đồng (chín triệu bốn trăm mười nghìn đồng). Trong đó: thu giữ của Hoàng M 4.160.000đồng, Phan Văn S 2.570.000đồng, Trần Viết H2 1.160.000đồng, Trần Anh Đ 1.520.000đồng.

Về giữ vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ:

  • - 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài;
  • - Tiền ngân hàng N 9.410.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSPĐ ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, đê nghị:

Xử phạt bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.410.000đồng.

Các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kiểm sát viên, các bị cáo đều đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án, công bố lời khai người vắng mặt tại phiên tòa.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, tại quán C1 ở thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do anh Đoàn Ngọc Đ1 làm chủ, các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ đã có hành vi cùng nhau đánh bạc trái phép, dưới hình thức đánh bài “Binh 9 cây tổ” thắng thua bằng tiền. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng để đánh bạc là 9.410.000 đồng.

Các bị cáo là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Do vậy, bản cáo trạng số 09/CT-VKSPĐ ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo thấy rằng: Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng tại địa phương.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, hành vi phạm tội của các bị cáo là bộc phát. Các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2 cùng thống nhất với nhau về việc đánh bạc trái phép, tham gia đánh bạc ngay từ đầu nên có vai trò ngang nhau. Bị cáo Trần Anh Đ tham gia đánh bạc giai đoạn sau nên có vai trò thấp hơn. Số tiền bị cáo M dùng để đánh bạc nhiều nhất trong các bị cáo, bị cáo S có nhân thân xấu hơn nên hai bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo Hoàng M, Trần Viết H2, Trần Anh Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Phan Văn S mặc dù được xác định chưa có tiền án, tiền sự nhưng đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính cách đây 5 năm nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[6] Xét căn cứ quyết định hình phạt thấy rằng: Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, quy mô đánh bạc nhỏ với số tiền dùng để đánh bạc không lớn, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; mục đích, động cơ phạm tội của các bị cáo là vì tiền. Các bị cáo có nghề nghiệp, lao động có thu nhập. Do đó, cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội vừa đảm bảo thu ngân sách nhà nước.

Do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Đối với anh Đoàn Ngọc Đ1 chủ quán cà phê không có mặt tại quán trong thời gian các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc trái phép; cháu Nguyễn Thị Như Ý là người bán cà phê thuê cho anh Đ1 không biết các bị cáo đánh bạc trái phép, không thu lợi gì từ việc đánh bạc của các bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 9.410.000đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 58; Điều 35, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng M 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Phan Văn S 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Trần Viết H2 28.000.000đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Trần Anh Đ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 9.410.000đồng.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo Hoàng M, Phan Văn S, Trần Viết H2, Trần Anh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T.T.Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T.T. Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điên;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Phong Điền;
  • - Các bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Anh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỂN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về đánh bạc

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỂN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng M và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger