Hệ thống pháp luật
Bản án sơ thẩm

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày 25 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thái Thị Ly và ông Thái Đình Thanh

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu- Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

+ Lương Văn L - Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 23/5/1990, tại xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: bản L, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn T- sinh năm: 1962 và bà Vi Thị H- sinh năm: 1963; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn L: Ông Lê Công T1- Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến: Ông Vi Văn S, sinh năm 1986

Địa chỉ: Bản K, xã N, huyện K, Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 30/01/2024, bị cáo Lương Văn L xin ngồi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đi từ bản L, xã L, huyện T đến bản P, xã N, huyện K để tìm mua ma tuý về sử dụng, khi đến nơi L gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 06 viên ma tuý (dạng hồng phiến) và 01 gói ma tuý (Heroine) với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, L cầm trên tay rồi đi bộ về nhà, khi đến Km 25 + 500 tỉnh lộ 543D (thuộc bản P, xã N) thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng N phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số vật chứng.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 10 giờ ngày 31/01/2024 đã xác định: Số viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Lương Văn L có tổng khối lượng 0,6 gam; Chất bột màu trắng (nghi là ma tuý) thu giữ của Lương Văn L có khối lượng 0,65 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 03/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng (Ký hiệu M1) thu giữ của bị cáo Lương Văn L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Lương Văn L có khối lượng là 0,6g (không phẩy sáu gam). Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Lương Văn L gửi tới giám định là ma tuý (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn L có khối lượng 0,65g (không phẩy sáu mươi lăm gam).

Hành vi của bị can Lương Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K, bị cáo Lương Văn L đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng.

Về vật chứng của vụ án:

  • - Số ma túy (Methamphetamine) sau khi trích mẫu gửi giám định có tổng khối lượng còn lại 0,5 gam; số ma tuý (H) sau khi trích mẫu gửi giám định có tổng khối lượng còn lại 0,55 gam cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu đã được niêm phong lại bằng một phong bì thư màu trắng, phía trên bên trái có dòng chữ “Công an tỉnh N, Công an huyện K”, không bị rách nát, hư hỏng, trên mép dán gói niêm phong.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kỳ Sơn giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trạng số 11/CT- VKS- KS ngày 19/3/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của hai chất ma tuý (Heroine, M) thu giữ của Lương Văn L là: 0,65g + 0,6g = 1,25g. Đối chiếu tổng khối lượng của hai chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì trong trường hợp này tổng khối lượng của hai chất ma tuý tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, trong trường hợp này tổng khối lượng của hai chất ma tuý Heroine và M thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

  • - Về hình phạt: Áp dụng: Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt: Bị cáo Lương Văn L từ 24(hai mươi tư) đến 26(hai mươi sáu) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư màu trắng, phía trên bên trái có dòng chữ “Công an tỉnh N- Công an huyện K”, không bị rách nát, hư hỏng, đang niêm phong, dán kín. Trên mép có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Lương Văn L. Bên trong có chứa 0,5 gam (Không phẩy năm) ma túy Methamphetamine và 0,55g (Không năm mươi lăm) gam ma tuý heroin cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.

Về án phí: + Bị cáo Lương Văn L là người dân tộc thiểu số, thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn L.

  • - Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo lần đầu phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện V đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì thêm và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận, người bào chữa cho bị cáo không có tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  • - Tại phiên toà, bị cáo đề nghị Trợ giúp viên Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N bào chữa cho bị cáo và tại phiên toà người bào chữa đồng ý bào chữa cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • - Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 07 giờ 55 phút ngày 30/01/2024, tại bản P, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đồn Biên phòng Na Ngoi - Bộ đội Biên phòng tỉnh N phát hiện bắt quả tang Lương Văn L đang có hành vi tàng trữ 0,6 gam ma tuý (Methamphetamine) và 0,65 gam ma tuý (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 với hành vi tàng trữ trữ 0,6 gam ma tuý (Methamphetamine) và 0,65 gam ma tuý (Heroine) đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

  • - Về hành vi của các bị cáo: Hành vi của bị cáo nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Ma tuý đã huỷ hoại đời sống con người, làm xói mòn các giá trị văn hoá gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, do đó các bị cáo phải bị nghiêm trị theo pháp luật và phải chịu hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đã thực hiện. Vì để thoả mãn cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp và coi thường pháp luật đã tìm mua ma tuý để sử dụng. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa.

  • - Về tình tiết tăng nặng: + Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo không có tài sản gì lớn, là đối tượng nghiện ma tuý, sinh sống nơi khó khăn vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] - Đối với người đàn ông đã cho bị cáo Lương Văn L ngồi xe nhờ để đi mua ma túy. Người đàn ông này không biết việc Lưu Văn L1 đi mua ma tuý nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Lương Văn L, do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm điều tra xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[5] Về vật chứng: - Số ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu để gửi giám định còn lại khối lượng 0,5 gam (Không phẩy năm) ma túy Methamphetamine và 0,55g (Không năm mươi lăm) gam ma tuý heroin. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về án phí: Bị cáo Lương Văn L là người dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn vì vậy thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tại phiên toà và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

  • - Áp dụng: Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lương Văn L 24(Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 30/01/2024).

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư màu trắng, phía trên bên trái có dòng chữ “Công an tỉnh N- Công an huyện K”, không bị rách nát, hư hỏng, đang niêm phong, dán kín. Trên mép có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Lương Văn L. Bên trong có chứa 0,5 gam (Không phẩy năm) ma túy Methamphetamine và 0,55g (Không năm mươi lăm) gam ma tuý heroin vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 21/03/2024).

[3] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn L.

[4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An

  • - VKSND huyện Kỳ Sơn

  • - Công an huyện Kỳ Sơn

  • - THA hình sự

  • - Chi cục THADS

  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà

Phan Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Lưu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger