Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 10/2024/HSPT-CTN

Ngày: 23/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn và bà Cao Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2024/TLPT-HS-CTN ngày 30 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Phan Công T1, Ngô Bảo K, Phạm T2, Hà Văn T3, Hà Ngọc N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố, tỉnh Gia Lai.

1. Các bị cáo:

1.1. Nguyễn Văn T, Sinh ngày 12 tháng 01 năm 2005, tại Nghệ An. Nơi cư trú: Làng B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T4, sinh năm 1979 và con bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1985; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự) và 12 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số 43/2023/HS-ST. Bị cáo chưa chấp hành Bản án trên.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 tại trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

1.2. Lương Sơn B, Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1999, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn T5, sinh năm 1968 và con bà Dương Thị Thu H, sinh năm 1972; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/3/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” (theo khoản 1 Điều 304 BLHS) tại bản án số 21/2024/HS - ST ngày 15/3/2024.

Bị cáo Lương Sơn B đang chấp hành án tại Trại tạm giam X - Bộ C1. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam tỉnh Gia Lai. Có mặt.

1.3. Phan Công T1, Sinh ngày 09 tháng 02 năm 2005, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Công V, sinh năm 1977 và bà Tạ Thị Xuân T6, sinh năm 1981; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự) và 09 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” (theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số 43/2023/HS-ST. Bị cáo chưa chấp hành Bản án trên.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/12/2023 tại trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

1.4. Hà Văn T3, Sinh 27/10/2000, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T7, sinh năm 1968 và bà Lâm Thị Minh T8, sinh năm 1972; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” (Quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số 12/2019/HS-ST; chấp hành án tại Trại giam G - Bộ C1. Ngày 27/4/2021, chấp hành xong hình phạt tù (Lần bị kết án này, bị cáo đã được xóa án tích).

Bị cáo Hà Văn T3 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

1.5. Phạm T2, Sinh năm 28/12/1998, tại Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: Thôn I, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Duy S, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị T9, sinh năm 1981; Tiền án: Không; Tiền sự:

Bị cáo Hà Văn T3 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

1.6. Ngô Bảo K, S1 04 tháng 9 năm 2006, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Công Đức H1, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Thu H2, sinh năm 1982; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo Ngô Bảo K bị tạm giữ từ ngày: 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

1.7. Hà Ngọc N, Sinh ngày 05 tháng 02 năm 2005, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Ngọc L, sinh năm 1978 và bà Hồ Thị Thu P, sinh năm 1983; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo Hà Ngọc N bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

2. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Ngô Bảo K:

Ông Ngô Công Đức H3 là cha đẻ của bị cáo Ngô Bảo K; địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

3. Người bào chữa cho bị cáo Ngô Bảo K:

Bà Trần Thị M - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, Lê Anh N1, Vũ Tiến Đ, Ngô Bảo K, Phan Công T1, Lương Sơn B, Hà Văn T3, Hà Văn T10, Phạm T2, Hà Ngọc N, Nguyễn Ngọc Bảo K1, Phạm Quang L1 (Sinh năm 2005, trú Thôn I, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai), Bùi Trung H4 (Sinh năm 2000, trú đường V, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) có quen biết nhau. Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2023,

T, T1, B, T3, T10, T2, Ngọc N, K1, L1, H4 và một số thanh niên khác (Chưa xác định được nhân thân, địa chỉ) cùng ăn nhậu với nhau tại quán M1 ở khu vực gần ngã tư B, phường Y, thành phố P. Khi đang ăn nhậu, T nhận được điện thoại của đối tượng tên D (là người dân tộc thiểu số, chưa xác định được nhân thân, địa chỉ) nói về việc có xích mích với nhóm “Hoàng nhỏ” ở xã T, thành phố P. Do trước đây T cũng có xích mích với “Hoàng nhỏ”, nên T nói D đến quán M1 để cùng đi đánh nhau với nhóm “Hoàng nhỏ”, thì D đồng ý. T điện thoại rủ Lê Anh N1 đi đánh nhau với nhóm “Hoàng nhỏ”, thì Anh N1 đồng ý và nói: “Có khẩu súng nhưng không có đạn”; T bảo Anh N1 cứ mang súng theo. Nhận điện thoại của T xong, Anh N1 gọi điện thoại rủ Đ đi đánh nhau, thì Đ đồng ý. Lúc này Đ đang đi cùng với K, nên Đ rủ K đi đánh nhau, thì K cũng đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 81X1-093.39 chở K đi đón Anh N1, rồi cùng nhau đến quán nhậu má heo gặp T. Khoảng 22 giờ cùng ngày, D cùng với khoảng 6-7 nam thanh niên (Đều là người dân tộc thiểu số, chưa xác định được nhân thân, địa chỉ) đi trên khoảng 04 xe máy (chưa xác định được loại xe, biển số) đến đứng trước quán M1. T nói nhóm D và nhóm Anh N1 đi đến khu vực gốc cây gạo trên đường V, phường Y, thành phố Pleiku đợi T.

Rủ rê, tập hợp được nhóm D và nhóm Lê Anh N1 xong, Nguyễn Văn T quay lại bàn nhậu và rủ những người đang nhậu đi giúp T đánh nhóm “Hoàng nhỏ”. Phan Công T1, Lương Sơn B, Hà Văn T3, Hà Văn T10, Phạm T2, Hà Ngọc N, Nguyễn Ngọc Bảo K1 đều đồng ý giúp T; riêng Nguyễn Trung H5 và Phạm Quang L1 không tham gia. Bá về nhà ở Thôn H, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai lấy 01 túi xách bên trong có đựng 01 khẩu súng dạng ru-lô và đạn đeo vào trước ngực, rồi đón xe thồ quay lại khu vực gốc cây gạo. Khi B đến nơi, T thấy B có mang theo túi xách nên hỏi: “Súng hả”, thì B trả lời: “Ừ”. Biết Bá có mang theo súng, đạn, nên T xin Bá 02 viên đạn rồi đưa cho Anh N. Lúc này khoảng 23 giờ ngày 22/7/2023, cả nhóm tập hợp gồm có: Trực, T1, Lê Anh N1, Hà Ngọc N, K1, T2, T3, T10, B, K, Đ, D và một số thanh niên người dân tộc thiểu số (Là bạn của D). T nói với cả nhóm: “Đi ra phố tìm H6 nhỏ để đánh”, thì tất cả đều đồng ý. Cả nhóm mang theo hung khí và chở nhau như sau:

  • - Tây điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Vario, chưa xác định biển số chở T; T mang theo 01 bình xịt hơi cay cất trong túi áo khoác;
  • - Đ điều khiển xe mô tô biển số 81X1-093.39 chở Anh N và K; Anh N mang theo súng tự chế và 02 viên đạn do B đưa;
  • - T2 điều khiển xe mô tô biển số 81M1-134.82 chở B; B mang theo súng và đạn để trong túi xách đeo trước ngực;
  • - T10 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Vario, biển số 81X1-114.61 chở K1;
  • - T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 81B3-145.88 chở Ngọc N;
  • - Dâng và nhóm thanh niên người dân tộc thiểu số chở nhau trên khoảng 04 đến 05 xe mô tô (chưa xác định chính xác số lượng xe và biển số).

Khi bắt đầu xuất phát, cả nhóm thống nhất cùng bật đèn xi-nhan bên phải của xe mô tô để nhận biết nhau, rồi điều khiển xe mô tô đi theo đường Phạm Văn Đ1 vào trung tâm thành phố P. Khi đi đến đường N, T nhìn thấy có 02 xe mô tô (Chưa xác định biển số, người điều khiển) chạy cùng chiều phía trước; T nghĩ là người của nhóm “Hoàng nhỏ”, nên hô hào cả nhóm chạy đuổi theo 02 xe mô tô trên từ đường N sang đường H thì mất dấu. Tây tiếp tục chở T đi theo đường H hướng về đường L, rồi quay lại đường H khu vực trước Bưu điện tỉnh G; các xe còn lại đi theo sau. Đối với B, khi đi đến đường H thì không muốn tham gia cùng với nhóm T nữa, nên nói T2 đi chậm lại thì T2 đồng ý. Lúc này khoảng hơn 24 giờ cùng ngày, tại vỉa hè trước Bưu điện tỉnh G có anh Trương Võ Quốc D1 (Sinh năm 2006), Huỳnh Văn L2 (Sinh năm 2006), Trần Văn A (Sinh năm 2006) cùng trú Thôn B xã B, thành phố P và Trần Quốc D2 (Sinh năm 2007, trú Tổ B, phường Y, thành phố P) đang đứng nói chuyện với nhau. Do trước đó giữa T1 và anh D2 có mâu thuẫn, nghĩ là anh D2 đang chửi mình nên T1 chở T chạy đến gần vị trí nhóm anh D2 đang đứng và chửi bới to tiếng; T xuống xe xông đến và dùng bình hơi cay xịt vào người anh D2. Một số người trong nhóm T vừa đến nơi cũng xuống xe xông vào chửi bới và dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh anh D2 và anh L2; Lê Anh N1 xuống xe rút súng tự chế cất giấu trong người ra chĩa vào nhóm anh D2 để đe dọa. Do T2 chở B đi chậm lại, nên khi cả hai đến nơi thì đã thấy T, T1, N1 và một số người khác đánh nhóm anh D2. T2 dừng xe lại gần đó; cả T2, B vẫn ngồi trên xe mô tô và không có hành động gì. Vừa lúc này, có lực lượng Cảnh sát 113 Công an tỉnh G đi tuần tra đến, nên T và cả nhóm tản ra bỏ chạy. B nói T2 điều khiển xe mô tô bỏ chạy nhưng không kịp, nên B nhảy xuống xe vứt túi xách đựng súng, đạn vào hàng rào của Công ty Đ2, rồi bỏ chạy. Lực lượng Cảnh sát 113 bắt giữ được Lê Anh N1, Ngô Bảo K và T2; thu giữ của Anh N1 01 (Một) khẩu súng tự chế dạng ru-lô bằng kim loại dài 14cm, báng súng quấn băng keo màu đen, bên trong ổ quay có 02 (Hai) viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, dài 2,2cm. Lực lượng Cảnh sát 113 phát hiện, thu giữ tại hiện trường 01 túi xách màu đen dài 32cm, có dây đeo, bên trong túi xách có: 01 (Một) khẩu súng dạng ru-lô màu đen, dài 17cm, trên thân có các ký tự SMITH&WESSON MADE IN CHINA, báng súng ốp nhựa màu vàng nâu; bên trong ổ quay có 02 (hai) viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen dài 2,3cm; 12 (Mười hai) viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen dài 2,3cm và 09 (Chín) vỏ đạn màu vàng dài 1,3cm. Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát 113 còn thu giữ xe mô tô biển số 81M1-134.82 và xe mô tô biển số 81X1-093.39. Ngay sau đó, lực lượng Cảnh sát 113 đã bàn giao vụ việc, đối tượng, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để làm rõ, xử lý.

Ngày 28/7/2023, Hà Văn T3, Nguyễn Ngọc Bảo K1, Hà Ngọc N, Hà Văn T10 và Lương Sơn B đến Cơ quan điều tra trình diện. Ngày 15/12/2023, Nguyễn Văn T và Phan Công T1 ra đầu thú. Ngày 11/01/2024, Vũ Tiến Đ ra đầu thú.

Qua giám định, tại Bản kết luận giám định số 695/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng K2, Công an tỉnh G, kết luận: Khẩu súng tự chế thu giữ của Lê Anh N1 không phải là vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hay đồ chơi nguy hiểm. Khẩu súng dạng ru-lô màu đen, dài 17cm, trên thân có các ký tự SMITH&WESSON MADE IN CHINA, báng súng ốp nhựa màu vàng nâu thuộc vũ khí quân dụng, còn sử dụng bắn được. Qua điều tra xác định khẩu súng này là của Lương Sơn B mang theo và vứt lại tại hiện trường vào rạng sáng ngày 23/7/2023. Các viên đạn thu giữ là đạn thể thao.

Các công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, qua điều tra xác định:

  • - Xe mô tô 81B3-145.88 do Hà Văn T3 sử dụng chở Hà Ngọc N, qua điều tra xác định do gia đình T3 mua nhưng T3 đứng tên đăng ký. Hiện T3 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô trên cho Cơ quan điều tra để xem xét, xử lý.
  • - Xe mô tô 81X1-114.61 do Hà Văn T10 sử dụng chở Nguyễn Ngọc Bảo K1, qua điều tra xác định do gia đình T10 mua nhưng T10 đứng tên đăng ký. Sau khi cùng các đồng phạm thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng vào tối ngày 22/7/2023, T10 đã bán xe trên cho người khác nhưng không biết rõ họ tên, địa chỉ người mua và cũng không làm thủ tục sang tên đăng ký, nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng đối với xe mô tô trên.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Vario, chưa xác định biển số do Phan Công T1 sử dụng chở Nguyễn Văn T là tài sản của ông Phan Công V (Cha ruột Phan Công T1); tối ngày 22/7/2023, T1 mượn xe đi chơi nhưng sau đó sử dụng làm phương tiện chở đồng phạm đi gây rối trật tự công cộng, thì ông V không biết. Sau đó, ông V đã bán lại xe cho người khác, nên Cơ quan điều tra không thu giữ, xử lý.
  • - Bình xịt hơi cay Nguyễn Văn T mang theo và sử dụng xịt vào người anh Trương Võ Quốc D1, T khai đặt mua trên mạng Internet và không biết gì về thông tin người bán; quá trình bỏ chạy khỏi hiện trường, T đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Việc Trực chuẩn bị, mang theo và sử dụng bình xịt hơi cay thì những người khác đều không biết.
  • - Các điện thoại di động Nguyễn Văn T, Lê Anh N1 và Vũ Tiến Đ sử dụng liên lạc, rủ rê đi đánh nhau, T, N1 và Đ khai quá trình bỏ chạy khỏi hiện trường đã làm rơi mất, nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Vật chứng vụ án:

  • - Khẩu súng tự chế, bên trong ổ quay có 02 viên đạn thu giữ của Lê Anh N1 qua giám định xác định không phải là vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hay đồ chơi nguy hiểm; N1 chỉ chĩa súng vào nhóm anh Trương Võ Quốc D1 để đe doạ, chứ không dùng súng để đánh nhóm anh D1. Cơ quan điều tra chuyển khẩu súng trên theo vụ án để xử lý.
  • - Đối với túi xách màu đen; 01 khẩu súng dạng ru-lô, bên trong ổ quay có 02 viên đạn; 12 viên đạn và 09 vỏ đạn thu giữ tại hiện trường vụ án, sau khi giám định Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G để điều tra, xử lý đối với Lương Sơn B về hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
  • - Đối với xe mô tô biển số 81M1-134.82, là phương tiện Phạm Tuân điều khiển chở Lương Sơn B đi thực hiện tội phạm, qua điều tra xác định là tài sản của ông Phạm Quang L1 (Sinh năm 2005, trú tại thôn I, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai, là anh họ của T2); đối với xe mô tô biển số 81X1-093.39, là phương tiện Vũ Tiến Đ điều khiển chở Lê Anh N1 và Ngô Bảo K đi thực hiện tội phạm, qua điều tra xác định là tài sản của ông Trương Vinh Q (Sinh năm 2001, trú Thôn F, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là anh rể của K). Các ông L1 và Q đều không biết T2 và Đ sử dụng xe mô tô của mình làm phương tiện phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại các xe mô tô trên cho ông L1 và ông Q.
  • - Đối với xe mô tô 81B3-145.88 do Hà Văn T3 giao nộp, Cơ quan điều tra chuyển theo vụ án để xử lý.

Đối với hành vi gây thương tích cho anh Trương Võ Quốc D1 do Nguyễn Văn T và các đồng phạm thực hiện, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, xử lý trong một vụ án khác. Đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng do Lương Sơn B thực hiện, đã được Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G khởi tố, xử lý theo thẩm quyền.

Lương Sơn B, Lê Anh N1, Phạm T2, Hà Văn T10, Vũ Tiến Đ, Ngô Bảo K, Nguyễn Ngọc Bảo K1, Hà Ngọc N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. N, Đ, K, K1 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Quá trình điều tra, truy tố vụ án, tất cả bị cáo đều thành khẩn khai nhận về hành vi của bản thân, đồng phạm và các tình tiết có liên quan.

Tại bản Cáo trạng số 115/CT - VKS ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo:

  • - Nguyễn Văn T về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
  • - Lê Anh N1, Lương Sơn B, Phan Công T1, Hà Văn T3, Phạm T2, Hà Văn T10, Vũ Tiến Đ, Ngô Bảo K, Nguyễn Ngọc Bảo K1, Hà Ngọc N về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

2.1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Phan Công T1, Hà Văn T3, Phạm T2, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”;

2.2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 56; Điều 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lương Sơn B, Hà Văn T3, Hà Ngọc N.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Phạm Tuân .
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 56; Điều 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Phan Công T1.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Ngô Bảo K.
  • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tổng hợp với 03 (Ba) tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự cộng cộng” bị cáo đang phải chấp hành theo Bản án số 43/2023/HS - ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
  • Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Lương Sơn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Phan Công T1 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tổng hợp với 03 (ba) tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” bị cáo đang phải chấp hành theo Bản án số 43/2023/HS - ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
  • Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Hà Văn T3 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án.
  • -Xử phạt bị cáo Phạm T2 08 (T5) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ trước đây từ ngày 23/07/2023 đến ngày 01/8/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Ngô Bảo K 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ trước đây từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Hà Ngọc N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án.
  • Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên bố xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Phan Công T1, Ngô Bảo K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Hà Văn T3, Hà Ngọc N, Phạm T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

  • Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, các bị cáo thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình.
  • Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Các bị cáo Hà Ngọc N, Phạm T2 giữa nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn T3, Phan Công T1 rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

5. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

5.1 Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Đình chỉ đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Công Tây
  • Đình chỉ đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Hà Văn T3.
  • - Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Hà Ngọc N, Phạm Tuân .
  • Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  • - Về án phí phúc thẩm:
  • +Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N, Phạm T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • +Bị cáo Phan Công T1, Hà Văn T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5.2 Người bào chữa cho bị cáo Ngô Bảo K là bà Trần Thị M trình bày:

Hoàn toàn thống nhất như hành vi phạm tội của các bị cáo như tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội mang tích chất đồng phạm giản đơn do bị bạn bè rủ rê, tham gia với vai trò không đáng kể và bị cáo là người chưa thành niên chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5.3 Người đại diện hợp pháp của bị cáo K:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo vì bị cáo còn nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo K không có ý kiến khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn trước đó với nhóm của “Hoàng nhỏ” ở xã T, thành phố P nên khi nghe D (là người dân tộc thiểu số, chưa xác định danh tính) nói có xích mích với với nhóm của “Hoàng N2” thì Nguyễn Văn T nói D đến quán má heo để cùng đi đánh nhóm “H6 nhỏ” thì D đồng ý. Lúc này, T gọi điện thoại rủ Lê Anh N1 đi đánh nhau với nhóm “H6 nhỏ” thì N1 đồng ý. N1 gọi điện thoại rủ Đ, Đ rủ K đi đánh nhau thì tất cả đồng ý. Rủ rê, tập hợp được nhóm D và nhóm Lê Anh N1 xong, Nguyễn Văn T rủ cả nhóm đang ngồi nhậu gồm có: Phan Công T1, Lương Sơn B, Hà Văn T3, Hà Văn T10, Phạm T2, Hà Ngọc N, Nguyễn Ngọc Bảo K1, Nguyễn Trung H5 và Phạm Quang L1 cùng tham gia đánh nhau thì tất cả đồng ý chỉ có Nguyễn Trung H5 và Phạm Quang L1 không đồng ý rồi ra về. Khoảng 23 giờ ngày 22-07-2023, tất cả tập trung tại Phường Y, thành phố P đi trên 10 xe mô tô đi vào trong trung tâm thành phố P; trên đường đi cả nhóm thống nhất bật đèn xi-nhan bên phải để nhận biết nhau. Khi đến đường N thấy 02 xe mô tô đi cùng chiều nghĩ là nhóm của “H6 nhỏ” Trực đã hô hào cả nhóm đuổi theo 02 xe mô tô đến đường H thì mất dấu. Cả nhóm Trực tiếp tục đi đến đoạn đường trước Bưu điện tỉnh thấy nhóm của Trương Võ Quốc D1, Huỳnh Văn L2, Trần Văn A, Trần Quốc D2 đang đứng nói chuyện với nhau. Do trước đây, T1 có mâu thuẫn với D2, nghĩ D2 chửi mình nên T1, T xông tới cùng lúc đó T đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh D2 rồi cùng với nhóm của mình đã gây ồn ào, chửi bới xông vào đánh nhóm của D2 làm mất trật tự thuộc địa bàn thành thành phố P nơi có đông dân cư sinh sống hai bên đường gây hậu quả làm mất an ninh, ảnh hưởng lớn đến trật tự công cộng tại địa phương.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lương Sơn B, Phạm T2, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phan Công T1, Hà Văn T3 xin rút toàn bộ kháng cáo do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm và không xem xét đối với kháng cáo của bị cáo Phan Công T1 và bị cáo Hà Văn T3

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Phạm T2, Hà Ngọc N thấy rằng:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xương rồi rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác tham gia đánh nhóm “Hoàng nhỏ”, bị cáo cũng là người thực hành tích cực khi là người xông đến dùng bình hơi cay xịt vào người anh D2 nên bị cáo phải là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Đối với bị cáo Lương Sơn B, Phạm T2, Ngô Bảo K và Hà Ngọc N người bị lôi kéo, rủ rê cùng với các bị cáo khác tham gia vào việc hô hào, gây rối trật tự công cộng, các bị cáo cũng đã có sự thống nhất bật đèn xi nhan bên phải để nhận biết nhau và cùng nhau hô hào kích động gây náo loạn khu vực gần Công ty Đ3, thành phố P. Tuy nhiên, các bị cáo chỉ tham gia với vai trò thứ yếu. Riêng đối với bị cáo Lương Sơn B có mang theo vũ khí quân dụng nhưng chưa sử dụng nên đã bị xét xử và tuyên án về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như:

  • Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Các bị cáo Lương Sơn B, Phạm T2, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Các bị cáo Nguyễn Văn T; Lương Sơn B; Ngô Bảo K và Hà Ngọc N sau khi phạm tội thì đã ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Ngô Bảo K khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng các điều 90, 91, 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T; Lương Sơn B; Ngô Bảo K, Phạm T2 và Hà Ngọc N không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới cho Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho các bị cáo. Do đó, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Bị cáo Phạm T2, Hà Ngọc N là người đã thành niên nhưng khi được rủ đi đánh nhau hai bị cáo không những không ngăn cản mà còn tham gia cùng với T gây rối trật tự công cộng. Bị cáo T2 bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố P khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích cho anh Trương Võ Quốc D1. Do đó, kháng cáo của hai bị cáo xin được hưởng án treo không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm:

  • -Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N, Phạm T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • -Bị cáo Phan Công T1, Hà Văn T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

  • - Căn cứ điểm a, đ khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 56; Điều 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Sơn B, Hà Ngọc N.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tuân .
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm đối với bị cáo Ngô Bảo K.
  • -Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Công T1 và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn T3.

3. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K và kháng cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Hà Ngọc N, Phạm Tuân .

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 147/2024/HSST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

2.1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Phạm T2, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

2.2.Về hình phạt:

  • -Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (S2) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và tổng hợp với 03 (Ba) tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Gây rối trật tự cộng cộng” bị cáo đang phải chấp hành theo Bản án số: 43/2023/HS - ST ngày 19/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Lương Sơn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Phạm T2 08 (T5) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án.
  • -Xử phạt bị cáo Ngô Bảo K 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án. Được khấu trừ 09 ngày tạm giữ trước đây từ ngày 23/7/2023 đến ngày 01/8/2023.
  • -Xử phạt bị cáo Hà Ngọc N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Về án phí:

Xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Lương Sơn B, Ngô Bảo K, Hà Ngọc N, Phạm T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Phan Công T1, Hà Văn T3 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố pleiku;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VT; HSVA và Tòa GĐ& CTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HSPT-CTN ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 10/2024/HSPT-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo ở Peliku
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger