Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hồng Nhiếp

Ông Vũ Xuân Chính

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Gây – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Tùng - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử số: 164/2024/TB-TA ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Bửu L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị H; chồng tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; con: 01 người sinh năm 2000); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/3/2024 cho đến nay (có mặt).

Các bị hại:

  • - Bà Đinh Kim H1. Sinh năm: 1968.

  • - Bà Võ Thị V. Sinh năm: 1962.

  • - Bà Huỳnh Thị M. Sinh năm: 1976.

  • - Bà Phan Ngọc T. Sinh năm: 1982.

  • - Ông Trần Văn S. Sinh năm: 1970.

  • - Ông Tô Văn T1. Sinh năm: 1993.

  • - Ông Tô Văn H2. Sinh năm: 1991.

2

  • - Ông Phan Thanh T2. Sinh năm: 1978.

  • - Bà Võ Thị T3. Sinh năm: 1964.

  • - Bà Lâm Thị N. Sinh năm: 1971.

  • - Bà Phan Thị Tuyết . Sinh năm: 1965.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Bà Nguyễn Trà M1. Sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;.

  • - Ông Trần Minh L1. Sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Bà Trần Xiếu H3. Sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Bà Nguyễn Ngọc C1. Sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Chung Như Ý. Sinh năm: 1977.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Bà Huỳnh Thị Q. Sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Ông Nguyễn Hoàng C2. Sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Bà Nguyễn Ngọc L2. Sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau;

  • - Ông Nguyễn Văn C. Sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bửu L làm chủ hụi từ năm 2015 đến năm 2020 L mở nhiều dây hụi cho người dân ở địa bàn xã L, huyện N và nơi khác tham gia. Hụi chơi đã mãn được nhiều dây, còn lại 03 dây hụi trong đó loại hụi 1.000.000 đồng có 01 dây; loại hụi 500.000 đồng có 02 dây. Khi mở hụi L đều có lập danh sách hụi viên, có mở sổ theo dõi việc bỏ thăm và hốt hụi. Hình thức khui hụi là nửa tháng khui 01 lần (khui vào ngày 15 và ngày 30 âm lịch hàng tháng, đối với tháng không có ngày 30 âm lịch sẽ khui vào ngày 01 âm lịch của tháng kế tiếp), mỗi kỳ khui hụi các hụi viên phải đến nhà L bỏ thăm kín, hụi viên bỏ thăm giá tiền cao nhất sẽ được hốt hụi. Người được hốt hụi sẽ trả tiền hoa hồng (tiền cò) cho L 400.000 đồng đối với loại hụi 500.000 và 800.000 đồng đối với hụi 1.000.000 đồng.

3

Nguyễn Bửu L đã lợi dụng sự tin tưởng của hụi viên không đi bỏ thăm L tự ý bỏ thăm, hốt và chiếm đoạt tiền của hụi viên. Đến ngày 09/7/2021 (nhằm ngày 30/5/2021 ÂL) thì L mất khả năng thanh toán và tuyên bố đình hụi. Cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 31/7/2019 (nhằm ngày 30/6/2019 ÂL), loại hụi 500.000 đồng/chân. Tổng số 55 chân, gồm 28 hụi viên tham gia 48 chân, L tham gia 07 chân hụi (lấy tên L 03 chân, tên C (chồng L) 02 chân; tên N1 02 chân (sổ hụi tên T4 con của L), dây hụi khui được 48 kỳ thì đình hụi, còn 07 kỳ chưa khui.

Trong dây hụi này, L hốt 07 chân ở các kỳ 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 38; hụi viên hốt 28 chân; L tự ý bỏ thăm hốt 13 chân, chiếm đoạt số tiền 208.000.000 (hai trăm lẻ tám triệu) đồng, gồm:

  • + (1) Ở kỳ khui hụi thứ 32 khui ngày 15/9/2020 ÂL Loan tự ý bỏ thăm tên ĐẠT CUA, hốt hụi của bà Huỳnh Thị M bỏ thăm với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 17.100.000 (mười bảy triệu một trăm nghìn) đồng.

  • + (2) Ở kỳ khui hụi thứ 34 khui ngày 15/10/2020 ÂL, L tự ý bỏ thăm tên 2 GIANG, hốt hụi của bà Đinh Kim H1 bỏ thăm với giá 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt 18.500.000 (mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng.

  • + (3) Ở kỳ khui hụi thứ 37 khui ngày 30/11/2020 ÂL, L tự ý bỏ thăm tên LỚN, hốt hụi của ông Trần Minh L1 bỏ thăm với giá 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

  • + (4) Ở kỳ khui hụi thứ 39 khui ngày 30/12/2020 ÂL, L tự ý bỏ thăm tên LỚN, hốt hụi của ông Trần Minh L1 bỏ thăm với giá 570.000 (năm trăm bảy mươi nghìn) đồng bù lại cho người chơi 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng.

  • + (5) Ở kỳ khui hụi thứ 40 khui ngày 15/01/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

  • + (6) Ở kỳ khui hụi thứ 41 khui ngày 30/01/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng.

  • + (7) Ở kỳ khui hụi thứ 42 khui ngày 15/02/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.

  • + (8) Ở kỳ khui hụi thứ 43 khui ngày 30/02/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng.

4

  • + (9) Ở kỳ khui hụi thứ 44 khui ngày 15/3/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

  • + (10) Ở kỳ khui hụi thứ 45 khui ngày 30/3/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm tên VÂN, hốt hụi của bà Võ Thị V, L bỏ thăm với giá 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng.

  • + (11) Ở kỳ khui hụi thứ 46 khui ngày 15/4/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm tên VÂN, hốt hụi của bà Võ Thị V, L bỏ thăm với giá 380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 16.400.000 (mười sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng.

  • + (12) Ở kỳ khui hụi thứ 47 khui ngày 30/4/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 18.000.000 (mười tám triệu) đồng.

  • + (13) Ở kỳ khui hụi thứ 48 khui ngày 15/5/2021 ÂL, L tự ý bỏ thăm hốt hụi, nhưng không nhớ lấy tên hụi viên nào, L bỏ thăm với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, chiếm đoạt số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng.

Trong dây hụi này còn 16 (mười sáu) hụi viên với 20 (hai mươi) chân hụi sống đã đóng đủ 48 kỳ với tổng số tiền thực đóng 234.200.000 (hai trăm ba mươi bốn triệu hai trăm nghìn) đồng gồm:

  1. Phan Ngọc T5 chân số tiền 11.710.000 đồng;

  2. Tô Văn Hiếu01 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  3. Tô Văn Thảo01 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  4. Võ Thị T6 chânsố tiền 23.420.000 đồng;

  5. Phan Thị T7 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  6. P chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  7. Trần Văn S1 chânsố tiền 23.420.000 đồng;

  8. Huỳnh Thị M2 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  9. Võ Thị V1 chânsố tiền 23.420.000 đồng;

  10. Trần M3 Lớn02 chânsố tiền 23.420.000 đồng;

  11. Nguyễn Trà M4 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  12. Nguyễn Ngọc C3 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  13. Lâm Thị Nga01 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  14. Đinh Kim Hương01 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  15. Trần Xiếu Hiên01 chânsố tiền 11.710.000 đồng;

  16. Trần Trúc L chânsố tiền 11.710.000 đồng.

Ngoài ra, Nguyễn Bửu L còn mở 02 (hai) dây hụi, cụ thể:

5

  • - Dây hụi 1.000.000 (một triệu) đồng mở ngày 07/4/2020 (nhằm ngày 15/3/2020 ÂL), gồm 44 chân, hụi khui được 31 kỳ thì đình hụi, còn lại 13 kỳ.

  • - Dây hụi 500.000 (năm trăm nghìn) đồng mở ngày 06/6/2020 (nhằm ngày 15/4/2020 ÂL), gồm 54 chân, hụi khui được 27 kỳ thì đình hụi, còn lại 27 kỳ.

Đối với 02 (hai) dây hụi này bị can Nguyễn Bửu L đã khui hụi, thu tiền hụi và giao hụi đầy đủ cho hụi viên, không có chiếm đoạt tiền hụi của các hụi viên.

* Tang vật thu giữ, gồm: 01 (một) quyển sổ học sinh có nội dung ghi lại từng kỳ bỏ hụi, khui hụi trong các dây hụi do bị can Nguyễn Bửu L cung cấp được lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Nguyễn Bửu L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Bửu L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo với mức án từ 03 đến 04 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Ông Nguyễn Văn C nộp khắc phục số tiền 48.120.000 đồng thay cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo L và ông C đồng ý tự nguyện khắc phục đủ cho bà Lâm Thị N 17.800.000 đồng. Số tiền còn lại 30.320.000 đồng nộp khắc phục cho bà Phan Thị Tuyết . Số tiền còn thiếu bị cáo L và ông C đồng ý liên đới thanh toán tiếp cho bà T8.

Quá trình điều tra Nguyễn Bửu L đã trả xong các khoản nợ cho 11 bị hại gồm: Tô Văn H2, Tô Văn T1, Huỳnh Thị M, Nguyễn Trà M1, Trần Minh L1, Phan Thanh T2, Võ Thị V, Phan Ngọc T, Đinh Kim H1, Trần Văn S, Trần Trúc L3.

Các hụi viên tham gia chơi hụi trong dây hụi bị chiếm đoạt và dây hụi không chiếm đoạt đã đối chiếu, thanh toán xong tiền hụi, tiền chiếm đoạt với L nên không còn yêu cầu bồi thường.

Đối với các bà Võ Thị T3, bà Nguyễn Ngọc C1 và bà Trần Xiếu H3 đã được Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử xong các khoản nợ với Nguyễn Bửu L tại các Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 30/01/2023; Bản án số 25/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 và Bản án số 28/2023/DS-ST ngày 04/5/2023. Hiện nay, các bản án này đã có hiệu lực pháp luật nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

6

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) quyển sổ học sinh có nội dung ghi lại từng kỳ bỏ hụi, khui hụi trong các dây hụi do bị can Nguyễn Bửu L cung cấp.

- Đối với bị cáo Nguyễn Bửu L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền chiếm đoạt bị cáo đã khắc phục đầy đủ cho các bị hại. Riêng bị hại Phan Thị T9Lâm Thị N bị cáo đồng ý liên đới với chồng là ông Nguyễn Văn C bồi thường cho các bị hại. Hiện tại ông Nguyễn Văn C chồng bị cáo đã nộp khắc phục thêm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn số tiền 48.120.000 đồng để trả cho bị hại N và T9.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa mà bị cáo thừa nhận, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:

Bắt đầu từ năm 2015 Nguyễn Bửu L làm chủ hụi, L mở nhiều dây hụi khác nhau cho các hụi viên tham gia chơi là những người ở địa bàn cùng xã và thị trấn N thuộc huyện N, tỉnh Cà Mau. Việc tham gia chơi hụi có lập danh sách hụi, quy định mỗi tháng khui 02 lần vào ngày 15 và ngày 30 âm lịch hàng tháng, bằng hình thức bỏ thăm nếu hụi viên nào bỏ số tiền trong thăm cao nhất thì được hốt hụi. L được hưởng huê hồng của các hụi viên được hốt.

Trong thời gian làm chủ hụi Nguyễn Bửu L được sự tin tưởng của hụi viên, từ đó L lợi dụng khi đến kỳ khui hụi các hụi viên không đến bỏ thăm, L tự ý bỏ thăm hốt và chiếm đoạt tiền hụi của các hụi viên cụ thể:

Dây hụi 500.000 đồng/chân: Mở ngày 31/7/2019 (nhằm ngày 30/6/2019 âm lịch), tổng số có 55 chân, gồm 28 hụi viên tham gia 48 chân. Riêng L tham

7

gia 07 chân đã hốt hết. Hụi khui được 48 kỳ thì đình hụi, còn lại 07 kỳ chưa khui. Dây hụi này do L tự ý bỏ thăm hốt 13 chân hụi chiếm đoạt tổng số tiền là 208.000.000 đồng.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Bửu L có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do thâm hụt trong quá trình làm chủ hụi bị cáo đã có hành vi gian dối, tự ý lấy tên hụi viên khác bỏ hụi và không cho hụi viên hay, tự ý hốt hụi và chiếm đoạt tiền hốt hụi sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo Nguyễn Bửu L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Bửu L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến Chính sách pháp luật của Nhà nước trong giao dịch dân sự bằng hình thức chơi hụi, góp vốn tương trợ lẫn nhau để phát triển kinh tế gia đình, địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt. Đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên bị cáo L chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã thỏa thuận khắc phục xong hậu quả cho các bị hại nên các bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo. Do đó, bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo L có người thân có công với cách mạng, bà nội tên Hàng Thị N2 là mẹ Việt Nam anh hùng; 02 bác tên Nguyễn Văn B1Nguyễn Văn B2 là Liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề đối với bị cáo vẫn đủ đảm bảo răn đe đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo L và chồng là ông Nguyễn Văn C tự nguyện chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại bà Lâm Thị N là 17.800.000 đồng; bồi thường cho bà Phan Thị T9 là 53.700.000 đồng. Ông C đã nộp khắc phục số tiền 48.120.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn. Trong đó bị cáo L và ông C xác định nộp khắc phục đủ cho bà N nên bà N được

8

nhận 17.800.000 đồng, số tiền còn lại 30.320.000 đồng khắc phục cho bà T9 nên bà T9 được nhận. Số tiền còn thiếu bị cáo đồng ý cùng ông C thanh toán cho bà T9 là 23.380.000 đồng.

Kể từ ngày bà T9 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Đối với ông Nguyễn Văn C chồng bị cáo Nguyễn Bửu L xác định việc làm hụi của bị cáo L thì ông chiến không biết, không liên quan nên Cơ quan Điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối ông C là có cơ sở.

Đối với các bà Võ Thị T3, bà Nguyễn Ngọc C1 và bà Trần Xiếu H3 đã được Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử xong các khoản nợ với Nguyễn Bửu L tại các Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 30/01/2023; Bản án số 25/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 và Bản án số 28/2023/DS-ST ngày 04/5/2023. Hiện nay, các bản án này đã có hiệu lực pháp luật nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Đối với các hụi viên khác Cơ quan điều tra làm việc xác định các khoản nợ tiền hụi giữa bị cáo L với các đương sự này không liên quan đến dây hụi mà bị cáo L có hành vi chiếm đoạt nên tách ra xử lý theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

[6] Về vật chứng: Tịch thu 01 (một) quyển sổ học sinh có nội dung ghi lại từng kỳ bỏ hụi, khui hụi trong các dây hụi do bị can Nguyễn Bửu L cung cấp lưu hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bửu L phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[8] Bị cáo và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23,

9

Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bửu L 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.

- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Bửu L và ông Nguyễn Văn C liên đới thanh toán cho bà Phan Thị T9 23.380.000 đồng.

Kể từ ngày bà Phan Thị T9 có đơn yêu cầu thi hành án trường hợp bị cáo Nguyễn Bửu L và ông Nguyễn Văn C chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bị cáo L và ông C còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Về vật chứng: Tịch thu 01 (một) quyển sổ học sinh có nội dung ghi lại từng kỳ bỏ hụi, khui hụi trong các dây hụi do bị can Nguyễn Bửu L cung cấp lưu hồ sơ vụ án.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Bửu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Bửu L và ông Nguyễn Văn C phải nộp 1.169.000 đồng. Đối với số tiền 48.120.000 đồng ông Nguyễn Văn C nộp khắc phục theo biên lai thu tiền số 0003176 ngày 24/5/2024, bà Lâm Thị N được nhận 17.800.000 đồng; bà Phan Thị T9 được nhận 30.320.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn.

- Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp;

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;

  • - Công an huyện Năm Căn;

  • - VKSND huyện Năm Căn;

  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;

  • - Những người tham gia TT;

  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Khánh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger