Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST.

Ngày: 23-7-2024.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Phước Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Hữu Hoan – Nguyên Bí thư Huyện Đoàn huyện Thuận Bắc.

Bà Vũ Thị Vân – Phó hiệu trưởng Trường tiểu học Xóm Bằng xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc.

Thư ký phiên toà: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 09/7/2024 đối với bị cáo:

THẬP H, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2005 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Chăm; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Bà N; Cha: T L - sinh năm 1976, Mẹ: Đạo Thị Bích P - sinh năm 1977, Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, có mặt tại phiên tòa. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Thập H

Bà Đạo Thị Bích P, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Nơi cư trú: thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người bào chữa cho bị cáo Thập H

Ông Ngô Văn P1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt).

Người bị hại:

Anh Phạm Tiến L - sinh ngày 18/01/2006 (vắng mặt).

Nơi cư trú: thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Từ Công K, sinh năm 2008 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện hợp pháp của Từ Công Khang

Ông Đạo Đ, sinh năm 1953 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn P, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

- Nguyễn Hồng D, sinh năm 2008 (có mặt).

Nơi cư trú: thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc khoảng 12 giờ 00 ngày 02/11/2023, sau khi uống cà phê tại thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, Nguyễn Hồng D - sinh ngày 07/5/2008 trú tại thôn B, xã C, huyện T rủ bạn là Thập H - sinh ngày 18/11/2005 và Từ Công K - sinh ngày 14/6/2008 cùng trú tại thôn P, xã X, huyện N đi ra công trình đường C - V đoạn qua huyện T để chơi. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 49V4-5193 chở D và K đi từ xã X ra huyện T theo đường Q. Khi đi đến thôn B, xã B, huyện T, H tiếp tục điều khiển xe mô tô rẽ trái đi theo đường B - S hướng lên Nhà máy Đ1 rồi đi đến công trình đường C - V. H điều khiển xe mô tô chở D, K chạy một đoạn theo đường cao tốc đoạn qua thôn B, xã B thì H nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 85CA-017.58, nhãn hiệu DAELIMIKD, số loại F1, màu sơn Xanh ghi của anh Phạm Tiến L - sinh ngày 18/01/2006 trú tại thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đang dựng dưới gốc cây gần khu vực lán trại của công trình thi công đường cao tốc và không có ai ở gần. H nói với K “Xe đẹp kìa K, lấy không?”, K nói “Lấy thì ai chạy”, H nói “Mày chạy” (D nghe vậy nhưng không nói gì và cũng không có hành động can ngăn). H dừng xe lại để K xuống xe và đi bộ đến chỗ xe mô tô biển số 85CA-017.58 đang dựng. Thấy xe cắm sẵn chìa khoá, K bật chìa khóa lên đề máy nhưng xe không nổ máy rồi K dùng chân đạp cần đạp của xe cũng không nổ máy nên K dắt bộ xe mô tô này đi ra đường chỗ H, D đang dừng xe mô tô chờ. Sau đó, K ngồi lên xe mô tô biển số 85CA-017.58 còn H điều khiển xe mô tô biển số 49V4-5193 chở D đồng thời dùng chân đẩy xe mô tô biển số 85CA-017.58 mà K đang ngồi trên để chạy đi. Khi xe mô tô biển số 85CA-017.58 đẩy chạy được khoảng 10m thì K dùng chân trái gài cần số làm xe nổ máy rồi K chạy xe đi về nhà ông Đạo Đ (Ông nội của K) - sinh năm 1953 ở thôn P, xã X, huyện N cất giấu. Do không có tiền để tân trang lại xe mô tô biển số 85CA-017.58 nên sáng ngày 04/11/2023, K rủ H tháo các bộ phận của xe mô tô ra để bán (Do xe mô tô lấy trộm được không có giấy tờ và sợ bị phát hiện khi bán nguyên chiếc nên H và K thống nhất với nhau tháo rời các bộ phận ra để bán phế liệu lấy tiền tiêu xài). Sau đó, do không có công cụ để tháo rời các bộ phận xe mô tô nên H đã mượn anh Lượng Văn T - sinh năm 2003 trú cùng thôn P 1 là bạn của H các công cụ gồm 04 cái khóa hình chữ T, 01 cái kìm tay, 02 khóa mở có 02 đầu hình chữ U, 01 khóa mở hình lục giác, 01 khóa mở hình dẹp bằng kim loại để cùng với K sử dụng để tháo rời một số bộ phận của xe mô tô biển số 85CA-017.58 như tháo lốc máy, 02 cái phuộc bánh xe trước, 02 bánh xe ra khỏi khung sườn của xe, tháo 02 vỏ xe ra khỏi 02 mâm xe. Sau đó, H và K mang lốc máy của xe bán cho tiệm thu mua phế liệu của anh Phạm Văn H1 - sinh năm 1968 trú tại thôn A, xã X, huyện N với số tiền là 230.000₫ (Hai trăm ba mươi ngàn đồng). Sau đó, K, H1 và D cùng nhau sử

dụng số tiền này để ăn uống tiêu xài hết. Khoảng 02 ngày sau, H1 lấy 02 cái bánh xe cho anh Lượng Văn T. Đến ngày 07/11/2023, K mang khung sườn xe bán cho 01 người phụ nữ lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) thu mua phế liệu dạo trên đường với giá 120.000đ (Một trăm hai mươi ngàn đồng) và K đã tiêu xài một mình hết số tiền này. Đến ngày 20/11/2023, anh Phạm Tiến L đến Công an xã B, huyện T trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 121/KLĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tại thời điểm bị mất vào ngày 02/11/2023 của 01 xe mô tô biển số 85CA-017.58 là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSTB, ngày 14/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Thập H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 98 BLHS xử phạt bị cáo Thập H từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không xem xét.

Bị cáo không có tranh luận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về định tội, định khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Thập H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Để có tiền tiêu xài, ngày 02/11/2023, Thập H (là người dưới 18 tuổi) đã cũng Từ Công Khang thực hiện hành

vi trộm cắp tài sản là xe mô tô 85CA-017.58 của anh Phạm Tiến L trị giá 10.000.000đ. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc truy tố bị cáo Thập H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, vì để có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi gây án bị cáo bồi thường dân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS và bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, Điều 101 BLHS để xem xét cho bị cáo. Xét Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bị cáo có đủ các điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Đối với hành vi “Trộm cắp tài sản” của Từ Công Khang: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/11/2023, Từ Công Khang mới chỉ 15 tuổi 4 tháng 18 ngày nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Từ Công K về hành vi “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ.

[5] Đối với Nguyễn Hồng D: Mặc dù biết rõ H và K lấy trộm xe mô tô biển số 85CA-017.58 nhưng D có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra và không trình báo sự việc cho cơ quan có thẩm quyền biết. Bản thân D còn biết việc H và K tháo rời các bộ

phận của xe mô tô 85CA-017.58 rồi mang lốc máy và khung sườn của xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài nhưng D cũng không tố giác về hành vi của H và K. D không tham gia lấy trộm xe mô tô biển số 85CA-017.58 và cũng không có giúp sức cho H, K thực hiện hành vi phạm tội nên không có đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với D về hành vi “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm và do hành vi của H và K chỉ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên hành vi của Nguyễn Hồng D không đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với anh Phạm Văn H1: Qua làm việc anh H1 cho biết bản thân không có mua lốc máy gì từ Thập H hay Từ Công Khang nên không có cơ sở để xem xét xử lý đối với Phạm Văn H1.

[7] Đối với người phụ nữ đã mua 01 khung sườn xe mô tô biển số 85CA-017.58 do Từ Công Khang bán: Qua điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch, nơi cư trú của người này, Cơ quan điều tra đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận biết để phối hợp điều tra. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Đối với Lượng Văn T, qua điều tra xác định T cho H1 mượn bộ dụng cụ để tháo xe, T không biết việc H1 và K tháo xe nào, do trộm cắp hay do đâu mà có nên không có căn cứ xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định xe mô tô 49V4-5193 thuộc sở hữu của chị Đạo Thị Bích P (mẹ của bị cáo H1), khi H1 lấy xe để đi chơi và trộm cắp tài sản thì chị P không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô biển số 49V4-5193 cho chị Đạo Thị Bích P là có căn cứ.

- Tạm giữ và trả lại cho anh Phạm tiến L1 01 mâm xe bánh xe trước, 01 mâm xe bánh sau xe mô tô, 01 vỏ bánh xe mô tô bằng cao su, màu đen, đường kính 51cm, 01 vỏ bánh xe mô tô bằng cao su, màu đen, đường kính 51cm, 01 cây phuộc trước, 01 cây phuộc trước được làm bằng kim loại màu trắng bạc dài 45cm, 01 cái pô xe mô tô dài 87cm là có căn cứ.

- Tạm giữ và trả lại cho anh Lượng Văn T: 01 cái khóa chữ T dài 29cm; đầu mở có hình tròn, đường kính 1,8cm, 01 cái khóa chữ T dài 29cm, đầu mở có hình tròn, đường kính 2,2cm, dài 5cm, 01 cái khóa chữ T dài 29cm, đầu mở có hình tròn, đường kính 2cm, dài 5cm, 01 cái khóa chữ T dài 29cm; đầu mở có hình tròn, đường kính 1,4cm, dài 5cm; 01 cái kìm tay bằng kim loại màu đen xám, dài 16,5cm; 01 khóa mở dài 7cm, có thân hình tròn dài 4cm, đường kính 2,3cm; một đầu mở hình lục giác có khắc số 19, rộng 2,4cm; một đầu mở hình lục giác có khắc chữ P rộng 2,1cm; 01 khóa 14-17 được làm bằng kim loại dài 13cm, dày 0,3cm. 01 khóa 10 -12 được làm bằng kim loại dài 12,7cm, dày 0,2cm. 01 khóa mở lục giác, bằng kim loại màu đen bạc dài 14cm, đầu mở hình tròn; đường kính 3,3cm trên thân có khắc số 19 là có căn cứ.

[10] Đối với ý kiến của Người bào chữa: chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát về định tội, định khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày

15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên chấp nhận.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Thập H và đại diện gia đình Từ Công Khang đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Phạm Tiến L với tổng số tiền là 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) bao gồm bồi thường giá trị của chiếc xe mô tô 85CA-017.58 bị mất và những ngày công không lao động được do anh L không có xe để đi làm (H và K bồi thường mỗi người 7.500.000đ). Các bên đã bồi thường xong và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Bị hại L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

[12] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo H, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[13] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Thập H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Thập H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/7/2024).

Giao Bị cáo Thập H cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Bị cáo Thập H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, công khai có mặt Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/7/2024). Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - Công an huyện Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Bắc;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Phước Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 10/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Thập H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger