Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 10/2024/HSST

Ngày: 21/6/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lê và bà Phan Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tân- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Phương- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/HSST ngày 22/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024, đối với bị cáo:

Dương Thanh T, sinh năm 2001; Nơi sinh: Tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên cha: Dương Quốc T1, sinh năm 1970; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Bị cáo có 01 chị, sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện P; Có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt tại phiên tòa;

2/Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 04/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Dương Thanh T liên hệ với 01 tài khoản Facebook (không xác định) hỏi mua ma túy đá thì được tài khoản Facebook này cung cấp số điện thoại 0832.776.xxx để T liên lạc mua ma túy. T sử dụng số điện thoại 0366.217.xxx của T gọi vào số điện thoại 0832.776.xxx gặp một người đàn ông (không rõ danh tính) hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý đá, người này đồng ý và sau khi nhận ma túy sẽ cung cấp số tài khoản ngân hàng để T chuyển tiền mua ma túy. Đến khoảng 10 giờ 50 phút ngày 05/01/2024, người đàn ông này hẹn T đến địa điểm phía sau cây xăng dầu thuộc thôn P, xã H, huyện P để bán ma túy, T điều khiển xe mô tô 78E1-518.14 đến nơi hẹn thấy 01 bì khẩu trang dán trên bì rác bên trong có 01 bì nilon trong suốt có chứa ma túy nên T lấy dán lên đầu gối trái và lấy quần đang mặc phủ bên ngoài rồi điều khiển xe đi về nhà thì bị Công an huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ bì nilon có chứa ma túy trên (ký hiệu A₁) và thu giữ trên người của Tuyên 01 bì nilon có bám dính ma túy (ký hiệu A2).

Tại Kết luận giám định số 06/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt vuốt kín (ký hiệu A₁) là ma túy, có khối lượng 6,310 gam, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong bì nilon trong suốt vuốt kín (ký hiệu A2) là ma túy, vì lượng tinh thể màu trắng ít nên không xác định được khối lượng.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSPH ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa truy tố bị cáo Dương Thanh T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố sau khi phân tích mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Dương Thanh T không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Đề nghị tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 xe môtô 78E1-518.14; Trả cho bị cáo Dương Thanh T 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ đen vì không liên quan đến tội phạm; Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo, vì bị cáo đã dùng làm công cụ, phương tiện để phạm tội; Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì nilong chứa 6,157 gam ma tuý loại Methamphetamine; 01 bì nilong kích thước (04 x 3,5) cm; 01 chai nhựa màu xanh kích thước (22 x 60)cm, miệng nắp có quấn băng keo đen, trên miệng có 02 lỗ tròn; 01 cái nỏ thủy tinh kích thước (13,2 x 2,5)cm; 01 cái ống hút nhựa màu trắng kích thước (14 x0,5)cm, vì không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo Dương Thanh T khai mua ma túy trên của 01 người đàn ông có số điện thoại 0832.776.xxx nhưng người đứng tên đăng ký không sử dụng số điện thoại này và qua điều tra không xác định được danh tính của người đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N xin nhận lại chiếc xe mô tô biển số 78E1- 518.14, vì chiếc xe là của gia đình bà N nhưng khi mua xe để bị cáo T đứng tên đăng ký, việc bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy thì gia đình bà N không biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C, tuy nhiên đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của ông C không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án. HĐXX căn cứ vào các Điều 292 BLTTHS, xét xử vắng mặt người này.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng vụ án, kết luận giám định về ma túy nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 05/01/2024 tại thôn P, xã H, huyện P, Dương Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 6,310 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy vì tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, trực tiếp gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội nên các hành vi có liên quan đến ma túy trái phép cần được ngăn chặn nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã cố ý phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo Dương Thanh T là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cũng như hậu quả do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng để có ma túy sử dụng bị cáo đã cố ý thực hiện, khi lực lượng Công an tiến hành khám xét đã thu giữ 6,310 gam ma túy, loại Methamphetamine mà bị cáo T đã cất giấu với mục đích để sử dụng, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án phù hợp để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Dương Thanh T không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N xin nhận lại chiếc xe mô tô biển số 78E1- 518.14 đã bị tạm giữ. Xét thấy, bà N (là mẹ ruột bị cáo T) khai nhận chiếc xe mô tô biển số 78E1- 518.14 là của gia đình bà N nhưng khi mua xe để bị cáo T đứng tên đăng ký, việc bị cáo T sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy thì gia đình bà N không biết. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nhận lại xe của bà N, tuyên trả cho bà N xe môtô nêu trên.

[5] Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Vật chứng không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy. Vật chứng không dùng vào việc phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu và các vật chứng dùng để phạm tội thì tịch thu sung quỹ Nhà nước, theo như nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo Dương Thanh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/01/2024).

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 xe môtô 78E1-518.14; Trả lại cho bị cáo Dương Thanh T 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ đen.

+ Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo của bị cáo Dương Thanh T.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì nilong chứa 6,157 gam ma tuý loại Methamphetamine; 01 bì nilong kích thước (04 x 3,5) cm; 01 chai nhựa màu xanh kích thước (22 x 60)cm, miệng nắp có quấn băng keo đen, trên miệng có 02 lỗ tròn; 01 cái nỏ thủy tinh kích thước (13,2 x 2,5)cm; 01 cái ống hút nhựa màu trắng kích thước (14 x0,5)cm.

(Việc trả lại tài sản, tịch thu sung quỹ Nhà nước và tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng được thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện P).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Thanh T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện P;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Bị cáo
  • - Lưu AV, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 10/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thanh Tuyên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger