|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/DS-ST Ngày 13 - 6 - 2025. “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Cường.
Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và Ông Lê Quang Thế.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXX-ST ngày 16/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10, ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số ngày 16/5/2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Tạ Thị L, SN 1970.
- Thường trú tại: xóm A, thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Hiện ở tại: Số H ngách C ngõ A Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội.
- (Có mặt).
- * Đồng bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, SN 1974.
- - Chị Đỗ Thị H, SN 1974.
- Đều thường trú tại: thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- (Chị H đã ủy quyền tham gia tố tụng, giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến vụ án cho anh T).
- (Đều có mặt).
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Phạm Đức N, SN 1993 và chị Hoàng Tố U, SN 1996.
- Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên (thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên).
- (Đều vắng mặt).
- * Những người làm chứng:
- - Anh Đỗ Xuân B, SN 1969.
- Trú tại: Thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- (Vắng mặt).
- - Anh Võ Xuân V, SN 1994.
- Nơi đăng ký HKTT, trú tại: Thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- (Có mặt).
- - Chị Võ Thị Tú A, SN 1991,
- Hiện ở tại: xã P, huyện B, tỉnh Hải Dương.
- (Vắng mặt).
- - Chị Đỗ Thị T1, SN 1975.
- - Chị Nguyễn Thị N1, SN 1980.
- - Chị Bùi Thị Tú A1, SN 1987.
- - Chị Bùi Thị Thúy H1, SN 1987.
- Đều trú tại: Thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Các chị T1, N1, Tú A1 và H1 do bị đơn anh Nguyễn Anh T mời đến tham dự phiên tòa, được HĐXX chấp nhận tại phiên tòa.
- (Đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn bà Tạ Thị L trình bày:
Giữa chị L và vợ chồng anh Nguyễn Anh T, SN 1974, chị Đỗ Thị H, SN 1974 đều thường trú tại: thôn V, xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên chơi với nhau rất thân thiết từ nhiều năm trước. Đầu năm 2014, chị L có tham gia đấu giá Khu đất chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên và trúng một lô với diện tích hơn 100 mét vuông và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị L. Do là chỗ thân tình, nên vợ chồng anh T, chị H có hỏi mượn chị thửa đất này để làm nhà ở, sinh hoạt. Do đất chưa dùng đến với vợ chồng anh T, chị H gặp khó khăn, chưa có chỗ ở nên chị đã đồng ý cho mượn. Việc mượn đất thì hai bên không thiết lập văn bản gì. Khi anh T, chị H xây dựng nhà thì giữa chị và vợ chồng anh T, chị H vẫn qua lại, chơi với nhau; khi xây xong nhà thì thi thoảng chị còn về đó sinh sống, ở lại một vài ngày với vợ chồng T, H. Khoảng cuối năm 2014, anh T, chị H làm ăn có thiếu vốn nên có ký hợp đồng tín dụng (vay tiền) tại Ngân hàng N2, Phòng G1 và có hỏi mượn chị G chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên để làm tài sản thế chấp vay vốn. Chị L cũng cho mượn và ký xác nhận thủ tục vay vốn cho anh T, chị H theo quy định tại Ngân hàng. Ngoài việc ký kết với Ngân hàng thì giữa chị và anh T, chị H không ký kết văn bản gì về việc mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến nay chị có nhu cầu sử dụng thửa đất và đã nhiều lần yêu cầu anh T, chị H trả lại đất nhưng anh T, chị H không trả mà còn gây khó dễ cho chị. Chị được biết hiện nay trên thửa đất của chị thì vợ chồng anh T, chị H cũng không ở mà cho các cháu là anh N, chị U sinh sống.
Chị L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu buộc anh T, chị H trả lại chị quyền sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Tạ Thị L, số sổ BT 650850, số vào sổ cấp GCN CH01491 do UBND huyện K cấp ngày 23/10/2014 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H cùng trình bày:
Anh và chị H có chơi thân thiết với chị L, việc chị L trình bày về việc mượn quyền sử dụng đất và không viết giấy tờ gì là đúng nhưng có nguyên do của việc không thiết lập văn bản, giấy tờ. Nay, chị L khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Tạ Thị L, số sổ BT 650850, số vào sổ cấp GCN CH01491 do UBND huyện K cấp ngày 23/10/2014 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng. Anh T, chị H nhất trí trả lại chị L quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Anh có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc chị L phải trả lại cho anh tiền anh đã bỏ ra xây nhà trên đất là 700.000.000đ và tiền anh đã vay ngân hàng hộ chị L theo hợp đồng tín dụng số tiền là 700.000.000đ. Vì khi ký hợp đồng vay tiền tại Ngân hàng N2, Phòng G1 là vợ chồng anh T đứng ra vay cho chị L, sau khi được giải ngân từ ngân hàng thì anh đã cầm tiền trực tiếp đưa cho chị L. Việc giao tiền có chị Đỗ Thị T1, SN 1975, chị Nguyễn Thị N1, SN 1980, chị Bùi Thị Tú A1, SN 1980 và chị Bùi Thị Thúy H1, SN 1987 chứng kiến.
Do vậy, anh đề nghị Tòa án buộc chị L trả lại anh số tiền 700.000.000đ đã bỏ ra xây nhà; 700.000.000đ tiền khi ký hợp đồng tín dụng đưa cho chị L và 700.000.000đ tiền tất toán hợp đồng tín dụng và lãi suất mà anh đã trả cho Ngân hàng. Tổng số tiền là: 3.071.870.155đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Đức N, SN 1993 và chị Hoàng Tố U, SN 1996 trình bày anh có quan hệ là cháu gọi anh T, chị H1 là chú dì, anh chỉ ở nhờ nhà của anh T, chị H1, không có gì liên quan, anh N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Những người làm chứng phía bên nguyên đơn gồm anh Võ Xuân V, chị Võ Thị Tú A: đều xác định mẹ anh, chị bà Tạ Thị L có cho anh T, chị H1 mượn đất xây nhà; đó là đất riêng của bà L, các anh chị không có gì liên quan.
Người làm chứng phía bên bị đơn anh Đỗ Xuân B trình bày: Anh B là anh rể của anh Nguyễn Anh T, SN 1974 ở xã H (nay là xã Đ), huyện K, tỉnh Hưng Yên, còn chị Đỗ Thị H, sinh năm 1974 là em gái anh. Năm 2014, anh có mở tài khoản đứng tên Đỗ Xuân B tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện K – Phòng G1. Số tài khoản này hiện nay anh không nhớ và anh cũng đã không sử dụng từ lâu. Khi sử dụng số tài khoản này, thì giữa anh và anh T do làm ăn, buôn bán đồng nát thì có thi thoảng thanh toán tiền cho nhau qua số tài khoản. Anh T không nhờ cũng chưa bao giờ nói với anh là mượn số tài khoản của anh (mở tại Ngân hàng N2) để chuyển khoản số tiền nào đó, cũng không nhờ anh rút số tiền nào đó mà không phải là tiền buôn bán giữa anh và anh T.
Người làm chứng phía bên bị đơn mời đến phiên tòa: Các chị T1, N1, Tú A và chị H cùng trình bày: Giữa các chị cùng vợ chồng anh T, chị H và chị L chơi với nhau rất thân thiết; các chị T1, N1, Tú A và H có chứng kiến việc anh T đưa cho chị L số tiền 700.000.000đ vào ngày 15/12/2014 tại nhà anh T, các chị chỉ biết tổng số tiền là 700.000.000đ, đưa 01 lần vào ngày 15/12/2014 còn không biết đó là tiền gì, nội dung giao dịch giữa anh T, chị L là tiền gì.
Tại công văn số 792 ngày 09/10/2024 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện K – Phòng G1 trả lời như sau: Theo hợp đồng tín dụng số 2408-LAV-2014.08528 ngày 10/12/2014 thì Bên được cấp tín dụng được cấp tối đa số tiền 700.000.000đ (Theo nghĩa vụ được bảo đảm tại Hợp đồng thế chấp số 2408-LCP-2014.00604 ngày 05/12/2014), hợp đồng này thể hiện bên A cấp tín dụng là A2 Chi nhánh huyện K, Hưng Yên, P; bên B là bên thế chấp bà Tạ Thị L; bên C là bên được cấp tín dụng ông Nguyễn Anh T, bà Đỗ Thị H.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, của Hội đồng xét xử đến trước khi nghị án đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự: anh T, chị H tự nguyện trả lại đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị L; chị L tự nguyện trả cho anh T, chị H 500.000.000đ giá trị nhà và các công trình khác trên đất; đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh T; không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T vì không có căn cứ. Anh T, chị H, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- - Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên đơn chị Tạ Thị L khởi kiện anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H trả lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Tạ Thị L, số sổ BT 650850, số vào sổ cấp GCN CH01491 do UBND huyện K cấp ngày 23/10/2014. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
- - Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Tạ Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H trả lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận có quan hệ giao dịch mượn quyền sử dụng đất thửa số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² để anh T, chị H xây nhà ở và mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tài sản thế chấp ký hợp đồng tín dụng vay tiền tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện K – Phòng G1 không thiết lập văn bản, giấy tờ mượn là có thực. Anh T, chị H thừa nhận và nhất trí trả lại chị L quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H cùng chị Tạ Thị L đã tự nguyện, thống nhất thỏa thuận như sau:
- - Anh T, chị H trả lại cho chị L, thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Tạ Thị L, số sổ BT 650850, số vào sổ cấp GCN CH01491 do UBND huyện K cấp ngày 23/10/2014.
- - Chị L tự nguyện trả cho anh T, chị H số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) giá trị nhà và các công trình khác xây trên thửa đất.
Sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với yêu cầu phản tố của anh T, tại phiên tòa anh T tự nguyện rút một phần yêu cầu phản tố và chỉ còn yêu cầu, đề nghị Tòa án buộc chị L trả lại số tiền gốc, lãi đã vay tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện K – Phòng G1 là 2.000.000.000đ thì thấy: Theo hợp đồng tín dụng số 2408-LAV-2014.08528 ngày 10/12/2014 thì bên cho vay: A2 Chi nhánh huyện K, Hưng Yên, P với bên vay là anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H, số tiền vay 700.000.000đ, mục đích vay kinh doanh hàng phế liệu; Giấy đề nghị vay vốn ngày 13/11/2014 do anh T, chị H ký, số tiền vay 700.000.000đ, mục đích vay kinh doanh hàng phế liệu; Giấy nhận nợ ngày 10/12/2014 do anh T ký, mục đích vay để mua hàng hóa là phế liệu các loại, phương thức thanh toán: Chuyển vào tài khoản số 2408250072698, tên tài khoản Đỗ Xuân B, số tiền 400.000.000đ, hạn trả nợ gốc tiền vay 10/6/2015. Giấy nhận nợ ngày 18/12/2014 do anh T ký, mục đích vay để mua hàng hóa là phế liệu các loại, phương thức thanh toán: Chuyển vào tài khoản số 2408250072698, tên tài khoản Đỗ Xuân B, số tiền 100.000.000đ, hạn trả nợ gốc tiền vay 18/6/2015, tổng dư nợ sau lần nhận nợ này 500.000.000đ. Giấy nhận nợ ngày 25/12/2014 do anh T ký, mục đích vay để mua hàng hóa là phế liệu các loại, phương thức thanh toán: Chuyển vào tài khoản số 2408250072698, tên tài khoản Đỗ Xuân B, số tiền 200.000.000đ, hạn trả nợ gốc tiền vay 25/6/2015, tổng dư nợ sau lần nhận nợ này 700.000.000đ (Sau 3 lần làm Giấy nhận nợ vào 03 ngày khác nhau thì anh T mới nhận đủ số tiền 700.000.000đ vay của Ngân hàng, Ngân hàng không chuyển tiền mặt cho anh T mà đều chuyển vào số tài khoản mang tên anh Đỗ Xuân B). Việc các chị T1, N1, Tú A và H khai báo tại Tòa án có chứng kiến việc anh T đưa cho chị L số tiền 700.000.000đ vào ngày 15/12/2014 tại nhà anh T, cùng với việc anh T khai báo khi nhận tiền trực tiếp từ Ngân hàng về là được cho chị L 01 lần đủ 700.000.000đ là không phù hợp với thực tế khách quan, chị L không thừa nhận.
Hơn nữa căn cứ hợp đồng tín dụng số 2408-LAV-2014.08528 ngày 10/12/2014, công văn trả lời của A2 Chi nhánh huyện K, Hưng Yên, P xác định Bên được cấp tín dụng được cấp tối đa số tiền 700.000.000đ (Theo nghĩa vụ được bảo đảm tại Hợp đồng thế chấp số 2408-LCP-2014.00604 ngày 05/12/2014), hợp đồng này thể hiện bên A cấp tín dụng là A2 Chi nhánh huyện K, Hưng Yên, P; bên B là bên thế chấp bà Tạ Thị L; bên C là bên được cấp tín dụng ông Nguyễn Anh T, bà Đỗ Thị H và các tài liệu do Ngân hàng cung cấp thì anh T, chị H trong thời gian từ năm 2014 đến 2017 có 02 lần ký Hợp đồng tín dụng cùng 08 lần ghi giấy nhận nợ, nhận giải ngân từ Ngân hàng đều với mục đích vay kinh doanh phế liệu. Không có thỏa thuận, văn bản nào thể hiện việc ông T, bà H đứng lên vay tiền A2 Chi nhánh huyện K, Hưng Yên, P hộ bà Tạ Thị L.
Như vậy không có việc anh T vay hộ tiền chị L, không có việc anh T trực tiếp chuyển tiền đã vay từ Ngân hàng cho chị L theo lời khai của anh T cũng như lời khai của những người làm chứng là không có căn cứ, không phù hợp với thực tế khách quan nên không được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản phía nguyên đơn (chị L) tự nguyện chịu toàn bộ. Xét sự tự nguyện này không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận nên HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bên đương sự tự nguyện, thỏa thuận được với nhau về việc trả lại quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh T, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch; bị đơn tự nguyện trả giá trị nhà, công trình trên đất nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; yêu cầu của bị đơn anh T, chị H không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, 213, 235 và Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 163, 164, 166, 169 và Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Khoản 166, 168, 169 và 179 Luật đất đai năm 2013.
- Điều 90, 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- - Anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H tự nguyện trả lại quyền sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Tạ Thị L, số sổ BT 650850, số vào sổ cấp GCN CH01491 do UBND huyện K cấp ngày 23/10/2014 cho chị Tạ Thị L.
- - Chị Tạ Thị L tự nguyện trả cho anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) là giá trị ngôi nhà, tài sản khác đã xây dựng trên thửa đất số 65, tờ bản đồ số: Mặt bằng chia lô khu hạ tầng kĩ thuật, địa chỉ xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có diện tích 100,5m².
- - Anh T, chị H có trách nhiệm đôn đốc anh Anh Phạm Đức N, SN 1993 và chị Hoàng Tố U, SN 1996 thu dọn đồ đạc để trả lại nhà, đất trên cho chị Tạ Thị L trước ngày 30/8/2025.
- - Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thì hành án, số tiền người phải thi hành án chậm thi hành án phải chịu lãi suất hàng tháng theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2/ Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Anh T do anh T đã rút tại phiên tòa.
3/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H yêu cầu Tòa án buộc chị Tạ Thị L phải trả anh T số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) tiền gốc và lãi anh T, chị H vay hộ chị L thông qua Hợp đồng tín dụng số 2408-LAV-2014.08528 ngày 10/12/2014.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ.
- - Chị Tạ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng); đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0002242 ngày 09/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Khoái Châu, chị L còn phải nộp số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng).
- - Anh Nguyễn Anh T, chị Đỗ Thị H phải chịu 72.000.000đ (Bảy mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, đối trừ số tiền 46.000.000đ (Bốn mươi sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai thu số 0002343 ngày 28/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu; anh T, chị H còn phải nộp tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn, bị đơn báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, báo cho đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
5/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Cường |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dân sự
