Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chuyên; bà Lương Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 04/02/2025, đối với bị cáo:

Lê Trung K; sinh ngày: 02/11/1993; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số nhà B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn:12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Xuân G và con bà Vũ Thị N; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/01/2009 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi đốt pháo, đã chấp hành xong ngày 02/02/2009. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1940 (đã chết)

Nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1950 (là vợ bị hại – vắng mặt)
  2. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1962 (là con bị hại – vắng mặt)
  3. Bà Vũ Thị P, sinh năm 1965 (là con bị hại – vắng mặt)
  4. Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1972 (là con bị hại – vắng mặt)
  5. Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1975 (là con bị hại – vắng mặt)
  6. Bà Vũ Thị P1, sinh năm 1980 (là con bị hại – vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1977 (là con bị hại – vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1970 (là con bị hại – vắng mặt)

Nơi cư trú: Thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1982 (là con bị hại – vắng mặt)

Nơi cư trú: Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

- Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1957 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH Đ1.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hữu N1, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1987

Nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Minh Đ, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  1. Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Anh Trần Đức T3, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 18/8/2024, bị cáo Lê Trung K (có giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/08/2020) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, biển kiểm soát 17H - 030.55 đi trên đường D, hướng thành phố T đi huyện T; khi đi đến km 10+200 thuộc thôn B, xã Q, huyện K, đây là đoạn đường cong có đặt biển cảnh báo nguy hiểm chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải và có các gờ giảm tốc, bị cáo K điều khiển đi trên phần đường bên phải theo chiều đi và phát hiện thấy phía trước có ông Vũ Văn T đang đi bộ từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo chiều đi của bị cáo K nhưng bị cáo K vẫn điều khiển xe ô tô đi về hướng T. Khi ông T đi bộ đến phần đường bên phải theo chiều đi của bị cáo K, do bị cáo K điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không nhường đường cho ông T đi bộ sang đường, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ nên dẫn đến phần đầu bên phải xe ô tô do bị cáo K điều khiển đã va chạm vào người ông T làm ông T ngã xuống đường trượt rê về hướng huyện T. Hậu quả, ông T tử vong tại chỗ.

Quá trình điều tra bị cáo Lê Trung K khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

1. Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km10+200 đường D, tại nơi xảy ra là đoạn đường thẳng, bên trái là khu dân cư, bên phải là cống thoát nước. Mặt đường rải nhựa áp phan, đường được chia làm 2 chiều phân biệt bởi vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn; chiều đường thành phố T đi T rộng 6,1m, chiều đường N đi thành phố T rộng 6,4m, vạch phân chiều đường rộng 0,1m, mặt đường bằng phẳng. Trước vị trí tai nạn có 03 cụm gờ giảm tốc. Lấy cột báo hiệu đường bộ bên phải đường chiều thành phố T đi Kiến Xương làm mốc chuẩn (biển báo hiệu đường cong phải). Khoảng cách từ mốc chuẩn đến tâm (1) là 43,0m. Lấy mép đường bên phải làm mép chuẩn (theo chiều thành phố T đi thị trấn T). (1) là đám máu (kích thước 0,40mx0,40m); (2) Vết phanh (kích thước 0,16x26,8m); (3) Xe ô tô biển kiểm soát 17H-030.55; (4) Tử thi là nam giới. Đám máu nằm trên mặt đường thuộc chiều đường thành phố T đi thị trấn T, kích thước 90,4mx0,4m) tâm vết máu cách mép chuẩn 3,50m, cách mốc chuẩn 43,0m. Đầu vết (2) cách tâm vết (1) là 0,7m, vết (2) nằm trên mặt đường thuộc chiều đường thành phố T đi thị trấn T, vết màu đen mài miết trên mặt đường hướng thành phố T đi thị trấn T theo chiều xe chạy, đầu (2) cách mép chuẩn là 3,3m, cuối (2) cách mép chuẩn là 3,80m. Xe ô tô biển kiểm soát 17H-030.55 đỗ trên mặt đường thuộc chiều đường T đi thị trấn T, đầu xe quay hướng T, đuôi xe hướng thành phố. Khoảng cách trục trước bên phải (3) cách mép chuẩn là 1,60m, trục sau bên phải (3) cách mép chuẩn là 1,0m. Trục sau bên phải (3) cách mốc chuẩn là 65,0m. Tử thi là nam giới nằm sấp trên mặt đường trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 17H- 030.55 (hướng bên lái) đầu quay hướng lòng đường, chân quay hướng mép chuẩn. Khoảng cách từ đỉnh (4) đến trục trước bên trái (3) là 2,30m. Khoảng cách từ thắt lưng (4) đến trục trước bên trái là 1,90m. Khoảng cách từ thắt lưng (4) đến mép chuẩn là 3,60m. Khoảng cách từ thắt lưng (4) đến mốc chuẩn là 67,60m.

2. Khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, biển kiểm soát 17H-030.55: Ba đờ sốc đầu xe bằng nhựa sơn màu đen, kích thước (310x50)cm, cạnh dưới cách đất 28cm. Rơi mất mới đèn chiếu gầm trước bên trái. Góc bên trái ba đờ sốc bị bật hở khỏi vị trí định vị, có dấu vết rách nhựa, gãy mất một phần nhựa, bề mặt nhựa trượt miết hướng từ trước về sau, vết đo (54x46)cm, vị trí thấp nhất và cao nhất của vết hiện tại lần lượt cách đất 8cm và 55cm. Ốp nhựa đầu xe bên trái vị trí phía dưới đèn pha trước bên trái có dấu vết nứt vỡ nhựa, trượt miết bề mặt hướng từ trước về sau, vết đo (54x20)cm, vị trí thấp nhất và cao nhất của vết cách đất 57cm và 80cm. Gãy đầu trước chắn bùn phía trước bên trái, bề mặt có dấu vết nứt vỡ nhựa, trượt xước sơn nhựa, vết đo (30x28)cm, hiện tại vị trí thấp nhất của vết cách đất 44cm. Kinh đèn pha trước bên trái có dấu vết trượt miết bề mặt, sạch bụi, hướng từ trước về sau, vết đo (45x23)cm, vị trí thấp nhất và cao nhất của vết cách đất 82cm và 105cm. Góc trước bên trái nắp capo và mặt ngoài đầu trước ốp kim loại đầu trước bên trái thân xe có đấu vết trượt miết bề mặt, sạch bụi, hướng từ trước về sau, vết đo (40x50)cm, vị trí thấp nhất và cao nhất của vết cách đất là 105cm và 133cm. Mặt trước dưới đầu bên trái cầu trục 1 có dấu vết trượt miết bề mặt, sạch bụi hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng, vết đo (50x18)cm, vị trí thấp nhất cách đất 19cm. Mặt trước dưới đầu trước ống xả và mặt dưới đầu bên phải thanh dẫn lái có dấu vết trượt miết bề mặt hướng từ trước về sau, bám dính tạp chất màu nâu đỏ, nghi là máu, vết đo (35x20)cm, vị trí thấp nhất của vết cách đất 28cm. Ngoài ra, tại gầm xe rải rác có dấu vết bám dính tạp chất màu trắng.

*) Bản kết luận giám định số 1282/KLGĐTT-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh T kết luận về nguyên nhân chết của ông Vũ Văn T: Trên tử thi có các vết sây sát da, trợt da, rách toác da cơ sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, ngực, tay và chân. Gãy 9 xương sườn bên phải và 2 xương sườn bên trái. Vỡ xương sọ vùng trán phải, chảy máu não. Nạn nhân Vũ Văn T chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

*) Bản kết luận giám định số 1497/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với 02 tập tin video "C.A Kiến Xương 1", "CA Kiến Xương. 2" được lưu trong 01 USB là dữ liệu camera ghi hình ảnh hiện trường xảy ra tai nạn giao thông, phần kết luận ghi: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chính sửa về nội dung hình ảnh của 02 (hai) tập tin video gửi giám định.

*) Bản kết luận giám định số 1498/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, đối với 01 tập tin video gửi giám định thu giữ camera phần kết luận ghi: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh của 01 (một) tập tin video gửi giám định.

*) Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giả tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình, phần kết luận ghi: Chi phí khắc phục hư hỏng của 01 xe ô tô biển kiểm soát 17H-030.55, nhãn hiệu HUYNDAI SOLATI sản xuất năm 2019, màu sơn bạc, bị hư hỏng sau tai nạn giao thông có giá trị 9.200.000 đồng.

*) Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo Lê Trung K ngày 19/8/2024 thể hiện nồng độ cồn trong hơi thở là 0,000mg/L.

*) Công văn số 2010/SGTVT-QLVTPTNL ngày 04/9/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T tra cứu thông tin Giấy phép lái xe của Lê Trung K (Bút lục số 65)

*) Công văn số 1995/SGTVT-QLVTPTNL ngày 30/8/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T, Kết quả chi tiết hành trình xe ô tô 17H-030.55.

Cáo trạng số 13/CT-VKSKX ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân huyện K, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Lê Trung K về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

*) Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân huyện K, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung K mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo K cho UBND phường K, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Bị cáo Lê Trung K và ông Vũ Văn Q (là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại) đã thỏa bồi thường toàn bộ thiệt hại là 115.000.000 đồng, ông Q đã nhận đủ tiền và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

+ Đối với phần hư hỏng của chiếc xe ô tô BKS 17H-030.55 (9.200.000 đồng) đã tự sửa chữa, thay thế và không có yêu cầu bị cáo Lê Trung K phải bồi thường đối với thiệt hại về tài sản nên không đặt ra giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/08/2020.

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

*) Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố, không tranh luận gì.

*) Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo K được hưởng án treo, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp cho gia đình bị hại.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Lê Trung K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập ngày 18/8/2024 tại Km 10+200 đường D thuộc địa phận thôn B, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số lục từ số 13 đến số 28); kết luận giám định pháp y về tử thi số 1282/KLGĐTT-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bút lục số 46, 47); biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản ảnh phương tiện xe ô tô khách biển kiểm soát 17H-030.55 nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, màu sơn bạc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình lập ngày 21/8/2024 (bút lục từ số 29 đến số 40); phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo Lê Trung K (bút lục số 179); kết luận giám định số 1497/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với 02 tập tin video; kết luận giám định số 1498/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, đối với 01 tập tin video (bút lục số 62, 66 đến 70); kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giả tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình (bút lục số 90, 93); công văn số 2010/SGTVT-QLVTPTNL ngày 04/9/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T tra cứu thông tin Giấy phép lái xe của Lê Trung K, công văn số 1995/SGTVT-QLVTPTNL ngày 30/8/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T, Kết quả chi tiết hành trình xe ô tô 17H-030.55 (bút lục số 65, 67 đến 81); lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại và người được ủy quyền; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của những người làm chứng (bút lục số 107 đến 118, 120, 121, 131 đến 134). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội.

[3] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 18/8/2024, Lê Trung K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, biển kiểm soát 17H - 030.55 đi trên đường D, hướng thành phố T đi huyện T; khi đi đến km 10+200 thuộc thôn B, xã Q, huyện K, đây là đoạn đường cong có đặt biển cảnh báo nguy hiểm chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên phải nhưng do bị cáo K điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không nhường đường cho người đi bộ sang đường nên dẫn đến phần đầu bên phải xe ô tô do K điều khiển đã va chạm vào người ông Vũ Văn T làm ông T ngã xuống đường, trượt rê theo xe ô tô về hướng huyện T. Hậu quả, ông T tử vong.

[4] Bị cáo Lê Trung K đã vi phạm vào khoản 1, khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1, Khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người nên đã phạm vào tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ: “1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ; ...4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”. Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT: Các trường hợp phải giảm tốc độ: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường; ...6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường”.

[5] Do đó, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông giao thông đường bộ”: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người...; 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

[6] Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Trong vụ án này, tai nạn giao thông xảy ra do lỗi hỗn hợp của bị cáo và bị hại, tuy nhiên, lỗi của bị cáo là chính. Do không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định khi tham gia giao thông đường bộ đã gây ra tai nạn rất nghiêm trọng làm ông Vũ Văn T bị chết, tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[7] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lê Trung K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối lỗi; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại có lỗi; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Trung K có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tại phiên toà là phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do bị cáo là lái xe thuê nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

[8.1] Bị cáo Lê Trung K đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí về, mai táng, tổn thất về tinh thần,... cho gia đình bị hại ông Vũ Văn T tổng số tiền 115.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[8.2] Đối với phần hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, biển kiểm soát 17H-030.55 là 9.200.000 đồng, Công ty TNHH Đ1 đã sửa chữa, thay thế và không có yêu cầu bị cáo K phải bồi thường đối với thiệt hại về tài sản nên không đặt ra giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI, biển kiểm soát 17H-030.55 do bị cáo K điều khiển là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho Công ty là phù hợp. Công ty đã nhận lại xe, không có ý kiến đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết.

[10] Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/08/2020 của bị cáo Lê Trung K chuyển cùng hồ sơ vụ án do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[11] Đối với ông Vũ Văn T, đi bộ từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái theo hướng huyện K đi thành phố T không đúng nơi quy định, không có vạch kẻ đường cho người đi bộ đã vi phạm Khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Do ông T đã chết nên không xem xét xử lý đối với ông T là phù hợp.

[12] Về án phí: Áp dụng các Điều 21, 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lê Trung K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[13] Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Trung K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/02/2025. Giao bị cáo Lê Trung K cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  4. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  5. Trả lại bị cáo Lê Trung K 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 28/08/2020.
  6. Về án phí: Bị cáo Lê Trung K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Trung K; đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/02/2025; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại;
  • người có QLNVLQ;
  • - CQĐT CA huyện Kiến Xương;
  • - CQTHAHS CA huyện Kiến Xương;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - UBND phường Kỳ Bá, TP.Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Kiên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger