Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày 15 - 4 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Thịnh.

Bà Nguyễn Thị Huệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Cao Trọng Sơn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Văn Đức Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 17a/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, B tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/7/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An đến tháng 6/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung; mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay chị thấy còn tình cảm không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 người con chung là Phan Thị Hải Y, sinh ngày 22/4/2011 và Phan Văn P, sinh ngày 28/02/2016. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi các con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Phan Văn H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H đúng quy định. Tuy nhiên anh H không có mặt tại Tòa án để làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của anh H đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị N.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của các đương sự tại Ủy ban nhân dân phường Q thể hiện: Anh H và chị N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Quá trình sinh sống tại địa phương thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Phan Văn P và Phan Thị Hải Y thì hai cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, 35, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xử: Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn H được ly hôn. Về con chung: Giao 02 người con chung là Phan Thị Hải Y và Phan Văn P cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phan Văn H do chị N chưa yêu cầu. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu; anh Phan Văn H không có ý kiến gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Phan Văn H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn vắng mặt trong các buổi làm việc. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định.

[2]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 06/7/2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung; mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại, chị N khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn H. Quá trình giải quyết vụ án, anh Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không hợp tác làm việc với Tòa án, điều đó chứng tỏ anh H không có ý thức để đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Phan Văn H.

[3]. Về con chung: Chị N và anh Phan Văn H có 02 người con chung là Phan Thị Hải Y, sinh ngày 22/4/2011 và Phan Văn P, sinh ngày 28/02/2016. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Cháu Phan Văn P và Phan Thị Hải Y đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét đến các điều kiện để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt tốt nhất cho con. Xét thấy, chị N có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo các điều kiện để nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ anh H không quan tâm đến quyền và nghĩa vụ nuôi con chung của mình; không có trách nhiệm đối với các con. Vì vậy, cần giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là có căn cứ, đúng pháp luật và phù phù hợp với nguyện vọng của con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do chị N chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phan Văn H là phù hợp.

[5]. Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Phan Văn H không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn H được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung Phan Thị Hải Y, sinh ngày 22/4/2011 và Phan Văn P, sinh ngày 28/02/2016 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phan Văn H do chị Nguyễn Thị N chưa yêu cầu. Anh Phan Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004328 ngày 10/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Phan Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Chi Cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - UBND phường Quỳnh Phương.
  • - Lưu HSVA; VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nghĩa - Hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger