Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 10/2025/DS-ST
Ngày 14-4-2025
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Hoàng Năng Long;
  • 2. Ông Bạch Đình Ca;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K;

Địa chỉ: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lý Văn T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K; Địa chỉ: A H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1974 và ông Tô Trọng Đ, sinh năm 1969; Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Đều vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 07/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lý Văn T trình bày:

Vào ngày 07/8/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần K (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết với ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P (bị đơn) theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023 vay với số tiền là 1.970.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng, mục đích cho vay để đầu tư và sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo cho khoản vay trên, bị đơn ký kết với Ngân hàng các Hợp đồng thế chấp sau:

- Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.01/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 059653 do UBND huyện C cấp ngày 20/8/2014 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng C chứng nhận vào ngày 17/8/2023 số công chứng 011551, quyển số 08/2023 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/8/2023 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C theo đúng quy định pháp luật.

- Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.02/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 211256 do Sở T1 cấp ngày 11/3/2019 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng C chứng nhận vào ngày 17/8/2023 số công chứng 011595, quyển số 08/2023 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/8/2023 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình vay thì bị đơn đã trả cho Ngân hàng 214.280.682 đồng tiền lãi. Đến thời hạn trả nợ, bị đơn vẫn chưa thanh toán số tiền gốc cho Ngân hàng và đã vi phạm hợp đồng nêu trên. Tính đến ngày 14/4/2025, bị đơn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 2.267.320.902 đồng, trong đó tiền gốc là 1.970.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính tới ngày 14/4/2025 là 297.320.902 đồng. Ngân hàng đã liên tục nhắc nhở, đôn đốc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bị đơn vẫn không thanh toán khoản vay trên cho Ngân hàng, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023 với tổng số tiền là 2.267.320.902 đồng, trong đó tiền gốc là 1.970.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính tới ngày 14/4/2025 là 297.320.902 đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi suất từ ngày 15/4/2025 cho đến khi bị đơn trả nợ xong cho Ngân hàng.
  2. Nếu bị đơn không trả nợ cho Ngân hàng, thì đề nghị Tòa án tuyên Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo theo các Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.01/23/HĐTC ngày 07/8/2023 và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.02/23/HĐTC ngày 07/8/2023 để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng trong trường hợp bị đơn không thanh toán số nợ trên. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay trên.

* Tại bản tự khai bị đơn ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P trình bày:

Đối với quá trình vay Ngân hàng thì đúng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, do gia đình đang gặp kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ, nên vợ chồng bị đơn không có khả năng trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền gốc là 1.970.000.000 đồng, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì vợ chồng bị đơn đồng ý trả nợ cho Ngân hàng và xin giảm tiền lãi. Nếu vợ chồng bị đơn không trả được nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng bị đơn đồng ý phát mãi các tài sản đảm bảo theo các Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 299, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền gốc là 1.970.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023, trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.01/23/HĐTC ngày 07/8/2023 và Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.02/23/HĐTC ngày 07/8/2023 đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P phải trả số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023 nên đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn cư trú tại Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý và xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Về nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023, thì bị đơn vay của nguyên đơn số tiền gốc là 1.970.000.000 đồng; mục đích cho vay để đầu tư và sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay 12 tháng; Lãi suất theo quy định tại từng thời điểm giải ngân. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền lãi là 214.280.682 đồng, còn nợ lại tiền gốc 1.970.000.000 đồng và cho đến nay chưa trả được số tiền nào cho Ngân hàng. Dư nợ tính đến ngày 14/4/2025 là 2.267.320.902 đồng, trong đó tiền gốc là 1.970.000.000 đồng, tiền lãi là 297.320.902 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại biên bản hòa giải thành ngày 24/12/2024 các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 5 Điều 211, khoản 1 Điều 212 ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.970.000.000 đồng nợ gốc.

[3] Về nợ lãi: Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó tính đến ngày 14/4/2025 bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023 với số tiền 297.320.902 đồng là phù hợp.

[4] Về biện pháp bảo đảm: Bị đơn có thế chấp cho nguyên đơn quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng thế chấp sau:

  • - Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.01/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 059653 do UBND huyện C cấp ngày 20/8/2014 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; thửa đất tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.02/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 211256 do Sở T1 cấp ngày 11/3/2019 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; thửa đất tọa lạc tại xã H, thành phố B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

Các hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B theo quy định tại Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Do đó, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ngày 07/8/2023 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là có căn cứ và cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã nộp 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này là phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 77.346.418 đồng (Bảy mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn bốn trăm mười tám đồng) theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 157, 211, 212, 227, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 299, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K.

  1. Buộc bị đơn ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K tổng số tiền là 2.267.320.902 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi nghìn, chín trăm lẻ hai đồng), trong đó: tiền gốc là 1.970.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 14/4/2025 là 297.320.902 đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm hai mươi nghìn, chín trăm lẻ hai đồng).

    Kể từ ngày 15/4/2025 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 196/23/HĐTD ký kết ngày 07/8/2023.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng Thương mại cổ phần K có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp cho ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P sau khi ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P trả hết nợ. Nếu ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo các Hợp đồng thế chấp là:
    • - Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.01/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 059653 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2014 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; thửa đất tọa lạc tại xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
    • - Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 196.02/23/HĐTC ngày 07/8/2023 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 211256 do Sở T1 cấp ngày 11/3/2019 mang tên ông Tô Trọng Đ, bà Phạm Thị P; thửa đất tọa lạc tại xã H, thành phố B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.
  4. Về án phí: Ông Tô Trọng Đ và bà Phạm Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 77.346.418 đồng (Bảy mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn bốn trăm mười tám đồng).

    Ngân hàng Thương mại cổ phần K không phải chịu án phí và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.821.515 đồng (Ba mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm mươi lăm đồng) theo biên lai số AA/2023/0006826 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Cư Kuin;
  • - Chi Cục THADS huyện Cư Kuin;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Ngọc Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 10/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger