TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 25 - 3 - 2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bà Bồ Thị Thái.
Thư ký phiên tòa: Bà Lường Khánh Ly - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/11/2024 V/v Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981;
- Địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
- Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Lê Anh T1, sinh năm 1970;
- Địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
- Hiện đang chấp hành Quyết định thi hành án phạt tù tại Trại giam T2 (Phân trại số 1) - Cục C, Bộ C1, địa chỉ: Thôn T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La ngày 13/12/2004. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Lê Anh T1 ham chơi, bỏ bê, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mặc dù đã được hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn với anh Lê Anh T1.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 có 02 con chung: Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 và cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010.
Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Lê Anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T cam đoan không có nợ chung.
Tại bản tự khai ngày 28/11/2024 (có xác nhận của Trại tạm giam Công an tỉnh S), anh Lê Anh T1 trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lê Anh T1 và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La ngày 13/12/2004. Hôn nhân tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 phát sinh mâu thuẫn, do anh Lê Anh T1 bị bắt và kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đang chấp hành án. Chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị ly hôn, anh Lê Anh T1 không nhất trí.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 có 02 con chung: Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 và cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010. Anh Lê Anh T1 nhất trí giao con cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Tại Biên bản tống đạt ngày 15/01/2025 (có xác nhận của Trại giam T2), anh Lê Anh T1 thay đổi ý kiến: Nhất trí ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Lê Anh T1. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T có có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng: Không có. Về nợ chung: Cam đoan không có.
Ngày 15/01/2025, anh Lê Anh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 209; Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự . Bị đơn hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2, Cục C, Bộ C1 đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật các quy định tại Điều 70; Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016: - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Anh T1; Về con chung: Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Lê Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản riêng: Không có; Về nợ chung: Không có nợ chung.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lê Anh T1 có địa chỉ tại tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, bị đơn anh Lê Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn ngày 13/12/2004 tại UBND phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, đã được hòa giải nhiều lần. Đến đầu năm 2024, anh Lê Anh T1 bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam T2, Cục C, Bộ C1. Chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị T đề nghị được ly hôn anh Lê Anh T1, anh Lê Anh T1 nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị Nguyễn Thị T và anh Lê Anh T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T và xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Anh T1.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 có 02 con chung: Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 và cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010.
Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, anh Lê Anh T1 nhất trí.
HĐXX xét thấy cháu Lê Mai Gia H đang sống cùng chị Nguyễn Thị T, cuộc sống của cháu đã ổn định, chị T và anh T1 đều nhất trí để cháu Lê Mai Gia H sống cùng mẹ. Tại Biên bản ghi ý kiến cháu Lê Mai Gia H ngày 10/12/2024, cháu có nguyện vọng được sống cùng mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, cần giao cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Lê Anh T1 cấp dưỡng nuôi con, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Lê Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản riêng: Không có.
[6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 cam đoan không có nợ chung.
[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[1] Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Anh T1.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 có 02 con chung: Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 và cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010.
Cháu Lê Mai A, sinh ngày 02/01/2006 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao cháu Lê Mai Gia H, sinh ngày 24/9/2010 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản riêng: Không có.
[6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 cam đoan không có nợ chung.
[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002581, ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
[8] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Hà |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 10/2025/HNGĐ – ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
