Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ- TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Nưm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Tuấn

Ông Vũ Văn Duân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh KonTum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

LƯƠNG VĂN L;

Sinh ngày 29 tháng 3 năm 1999 tại: tỉnh Kon Tum; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã A, huyện P, tỉnh Gia Lai và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Thẻ CCCD: [...], cấp ngày 02 tháng 11 năm 2022; Nơi cấp: Cục Q Bộ C; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Hợp H; Sinh năm: 1960 và bà Y P; Sinh năm: 1967; Bị cáo chưa có vợ (bị cáo Lương Văn L sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn với chị Y L1 (Sinh năm: 2000; Trú tại: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum)) và có một con tên Y Li N (Sinh năm: 2018); tiền án: 01 (Ngày 08/6/2021, có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và bị xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng theo Bản án số: 29/2021/HS-ST ngày 12/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm đối với Bản án trên); tiền sự: Không (Tháng 12/2019, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên). Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K từ ngày 10/12/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Y L1; Sinh năm: 2000; Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/12/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, Lương Văn L gọi điện thoại cho một người đàn ông tên “V” (có đặc điểm: Dáng người cao khoảng 160cm, người cân đối, nói giọng miền N, tóc cắt để một mái, khoảng 30 tuổi, sinh sống ở khu vực xã Đ, huyện Đ) hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) thì “V” đồng ý và hẹn đến khu vực đường Q đoạn giáp ranh giữa thôn C, xã Đ với thôn E, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (thường gọi khu vực này là Dốc đầu lâu). L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn Đen, biển kiểm soát 82H1-130.88 đi đến khu vực trên. Sau đó, “V” đến và đưa cho L 01 (một) bì ni lông, được hàn kín, kích thước khoảng (2,5x1,7) cm bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, L đưa số tiền cho “V” rồi L đi về nhà thuộc thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 10/12/2024, L điều khiển xe mô tô trên và mang theo 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt (gọi là nồi), 01 (một) bì ni lông chứa ma túy đá mà L mới mua trên bỏ vào trong một khẩu trang y tế màu đen và cất giấu trong mũ bảo hiểm đội trên đầu, đi tìm khu vực vắng người để sử dụng trái phép chất ma túy. Thấy lực lượng chức năng tuần tra ban đêm nên L đi đến khu vực rẫy cao su vắng người thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đi trên đường bê tông liên thôn thuộc thôn K, xã Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của L không thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số: 492/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K xác định: Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,320 gam.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh K.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKSĐH ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lương Văn L từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 10 tháng 12 năm 2024.

Về xử lý tang vật và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý tang vật của vụ án theo quy định của pháp luật và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 09/12/2024, Lương Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82H1-130.88 đến khu vực đường Q đoạn giáp ranh giữa thôn C, xã Đ với thôn E, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum mua ma túy của một người đàn ông tên “V” với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 10/12/2024, L điều khiển xe mô tô trên và mang theo 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt (gọi là nồi), 01 (một) bì ni lông chứa ma túy đá mà L mới mua trên bỏ vào trong một khẩu trang y tế màu đen và cất giấu trong mũ bảo hiểm đội trên đầu rồi đi đến khu vực rẫy cao su thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đi trên đường bê tông liên thôn thuộc thôn K, xã Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu. Tại bản Kết luận giám định số: 492/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K xác định: Mẫu các hạt tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 0,320 gam. Khối lượng đã trừ bì là 0,315 gam.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,320 gam, là loại: Methamphetamine của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo nhận thức được ma túy là một loại chất gây nghiện mà nhà nước cấm, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Tháng 12/2019, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên. Ngày 08/6/2021, có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và bị xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng theo Bản án số: 29/2021/HS-ST ngày 12/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. L chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm đối với Bản án trên. Vì vậy, xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 08/6/2021, bị cáo có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và bị xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng theo Bản án số: 29/2021/HS-ST ngày 12/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm đối với Bản án trên, vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) bì ni lông trong suốt được hàn kín có kích thước khoảng (2,5x1,7)cm, bên trong bì ni lông có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng đã trừ bì là 0,315 gam. Đây là chất ma túy loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt, một đầu ống thủy tinh được uốn cong, phần uốn cong có hình cầu miệng hở; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm có phần nhựa màu xanh, phần xốp bên trong được bọc vải màu đen, đã qua sử dụng. Đây là các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn Đen, biển kiểm soát 82H1-13088 là của chị Y L1 (sinh năm: 2000; trú tại thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) là người chung sống như vợ chồng với L; Chiếc xe mô tô là của Y L1, vào ngày 09/12/2024 và ngày 10/12/2024, L sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy và đi đến xã Đ, huyện Đ thì chị Y L1 hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Y L1 tiếp tục quản lý, sử dụng. Xét thấy việc trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 01 điện thoại di động loại Samsung Note 8, màn hình cảm ứng, màu xám, bị cáo không nhớ số điện thoại, của bị cáo Lương Văn L dùng để liên lạc mua ma túy với người đàn ông tên “V”, vào ngày 10/12/2024 bị cáo làm rơi, không rõ rơi ở đâu nên không đề cập xem xét.

[7] Về việc xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:

Xét thấy cần tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc Thi hành án.

[8] Các vấn đề khác:

  • - Đối với chị Y L1 là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn Đen, biển kiểm soát 82H1-13088, quá trình điều tra xác định: Vào ngày 09/12/2024 và ngày 10/12/2024, quá trình bị cáo L sử dụng xe mô tô trên để điều khiển đi mua ma túy của người đàn ông tên “V” và đi từ nhà đến xã Đ, huyện Đ thì chị Y L1 hoàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm đối với chị Y L1.
  • - Đối với người đàn ông tên “V” đã bán ma túy cho bị cáo Lương Văn L vào ngày 09/12/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh, tuy nhiên không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông tên “V” nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để có cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1] Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 10 tháng 12 năm 2024.

[2] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) bì ni lông trong suốt được hàn kín có kích thước khoảng (2,5x1,7)cm, bên trong bì ni lông có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng đã trừ bì là 0,315 gam.
  • - 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt, một đầu ống thủy tinh được uốn cong, phần uốn cong có hình cầu miệng hở; 01 (một) khẩu trang y tế màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm có phần nhựa màu xanh, phần xốp bên trong được bọc vải màu đen, đã qua sử dụng.

(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 06/QĐ-VKSĐH ngày 27/02/2025 của VKSND huyện Đăk Hà).

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương Văn L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà nẵng;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Đắk Hà;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Hà;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Hà
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn Nưm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ- TỈNH KON TUM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ- TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Long tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger