|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-PT Ngày: 24 - 3 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Các Thẩm phán: ông Cao Việt Hoàng và bà Nguyễn Thị Minh Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 12/2025/TLPT – HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 tại Lạng Sơn; nơi ĐKHKTT: làng T, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964 và bà Giáp Thị L, sinh năm 1969; có vợ là Hoàng Thị Hồng N, sinh năm 1996; con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 08/8/2024, tại đường Đ, khu Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ tai nạn giữa xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Canter BKS: 99L -1527 do Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; HKTT: Làng Thượng, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn điều khiển theo hướng từ Dốc Đặng đi Q, va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 99G1-036.97 do anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1978; HKTT: Khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh điều khiển di chuyển theo hướng ngược chiều, đằng sau chở anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1979; HKTT: Khu X, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và anh Vũ Đức M, sinh năm 1979; HKTT: Thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Hậu quả: anh S bị thương được đưa đi cấp cứu sau đó tử vong, anh K và anh M bị thương.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tạm giữ 01 xe mô tô BKS 99G1-036.97 đã qua sử dụng; 01 xe ô tô BKS 99L-1527 đã qua sử dụng; 01 mẫu chất nghi máu thu tại gương chiếu hậu bên trái xe ô tô BKS 99L-1527; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 003026 của xe ô tô BKS 99L-1527; 01giấy chứng nhận kiểm định xe số 2653327 của xe ô tô BKS 99L-1527; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô BKS 99L-1527; 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Vietmap 32Gb; 01 đĩa DVD có chứa 02 file video lưu hình ảnh vụ việc do anh Nguyễn Như V, sinh năm 1981; HKTT: Khu H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giao nộp.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại đường trong khu Q. Đây là đường hai chiều, ở giữa đường không có vạch kẻ sơn phân chiều đường hoặc giải phân cách. Mặt đường được trải nhựa Asphalt phẳng đều. Phía bắc của đường nơi xảy ra tai nạn giáp nhà chị Lê Thị M1 và nhà Quý L1. Hướng về phía Đông Bắc là đi vào khu Q, hướng về phía Tây là đường ra Dốc Đặng. Hướng từ D vào Q đường hơi thắt cổ chai, tại vị trí này gần ngã ba đường, rẽ trái là đường đi vào khu Q rộng 6,5m và rẽ phải là đường đi vào khu X rộng 5,5m. Mặt đường tại vị trí cột điện ký hiệu 2.3.5 Quả Cảm 2 rộng 4,3m. Mặt đường tại vị trí trục sau xe mô tô BKS 99G1 - 036.97 rộng 5,5m. Mặt đường tại vị trí trục trước xe mô tô BKS 99G1- 036.97 rộng 5,5m. Mặt đường tại vị trí trục trước xe ô tô BKS 99L - 1527 rộng 6,2m. Mặt đường tại vị trí trục sau xe ô tô BKS 99L - 1527 rộng 7,5m. Mặt đường tại vị trí cách trục sau xe mô tô BKS 99G1 - 036.97 07m rộng 6,7m.
Lấy vị trí cột điện ký hiệu 2.3.5 Quả Cảm 2 làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải theo chiều từ Q đi D (Mép đường dọc theo nhà chị Lê Thị M1) làm chuẩn. Tại vị trí ở giữa phần đầu xe ô tô BKS: 99L -1527 và đầu xe mô tô BKS: 99G1-036.79 phát hiện đám mảnh nhựa, kính vỡ trên diện (0,9 x 0,9)m, tâm đám mảnh vỡ này cách điểm mốc 5,7m, cách mép đường làm chuẩn 2,25m (Đã thu giữ các mảnh vỡ nhựa kính). Tại vị trí gần mép nhà chị Lê Thị M1 phát hiện đám dấu vết màu nâu trên diện (0,6 x 0,4)m, tâm đám này cách điểm mốc 6,6m, cách mép đường làm chuẩn 0,7m nên thu giữ dấu vết màu nâu. Xe ô tô BKS: 99L - 1527 đỗ trên đường đầu xe quay về hướng Q đuôi xe quay về hướng D Đầu trục trước bên trái của xe cách điểm mốc 6,6m, cách mép đường làm chuẩn 02m, đầu trục sau bên trái của xe cách mép đường làm chuẩn 1,6m. Xe mô tô BKS: 99G1 - 036.97 đồ nghiêng phải trên đường đầu xe quay ra hướng đi D, đuôi xe quay ra hướng đi Q, trục sau của xe cách điểm mốc 4,7m, cách mép đường làm chuẩn 1,8m, trục trước của xe cách mép đường làm chuẩn 1,65m.
* Khám nghiệm phương tiện xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Canter, biển kiểm soát 99L-1527 xác định: Mặt đèn báo rẽ trước bên trái có dấu vết vỡ kích thước (10x12)cm. Mặt trước phần còn lại của mặt đèn này và cạnh nhựa bên trong đèn có dấu vết in trượt kích thước (14x4)cm bề mặt có bám chất màu đỏ. Dấu vết cách mặt đất 89cm cao nhất 95,5cm. Bị vỡ mất mảnh toàn bộ đèn tại góc ngoài bên trái phía ngoài đèn pha. Mặt trước đầu bên trái cản trước có dấu vết lõm, trượt bám chất màu đen và màu đỏ kích thước (20x15)cm, chiều lõm từ trước về sau, chiều trượt từ trên xuống dưới, dấu vết cách cạnh sau bên trái của cản trước 13cm, sát với mặt dưới cản trước tương ứng dưới góc bên trái đèn pha, dấu vết cách mặt đất 44cm cao nhất 60cm. Phía trên dấu vết này tại mặt cản trước có diện dấu vết trượt không liên tục bám chất màu đen, màu đỏ kích thước (33x9)cm, dấu vết cách mặt đất 57,5cm cao nhất 65,5cm. Đầu cản trước có các dấu vết này bị dồn ép về sau. Đầu phía sau cản cách cạnh trước bậc bước chân về sau là 16cm.
* Khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, biển kiểm soát 99G1-036.97: 1/3 đầu chắn bùn bánh trước vỡ rời ra, mặt trên phần còn lại của chắn bùn ngay sau vị trí vỡ có diện dấu vết trượt xước kích thước (15x8,5)cm chiều từ trước về sau, bề mặt có bám chất màu trắng, dấu vết cách mặt đất 64cm. Mặt trên phần đầu chắn bùn rời ra này có diện dấu vết trượt xước bám chất màu trắng kích thước (11x6)cm chiều từ trước về sau, dấu vết sát đầu phía trước chắn bùn; khi gắn vào vị trí vỡ trên xe, dấu vết này cách mặt đất 55cm. Ốc đồng trục bên phải bánh trước có dấu vết xước màu trắng kích thước (0,6x0,3)cm. Mặt trước hai cánh yếm, ốp nhựa giữa có diện dấu vết trượt xước không liên tục kích thước (19x13)cm, dấu vết cách mặt đất 71cm cao nhất 82cm. 3/4 dưới cánh yếm bên trái gãy rời ra. Đầu tay lái bên phải có dấu vết xước kích thước (1,5x1,5)cm chiều từ trước về sau. Đầu khung bàn để chân trước bên phải có dấu vết xước bám chất màu trắng kích thước (1,2xl)cm. Nửa bên trái mặt đèn pha và mặt đèn báo rẽ, cạnh ốp nhựa xung quanh đèn có diện dấu vết trượt xước kích thước (18x8)cm, dấu vết cách mặt đất 98cm cao nhất 104cm. Giảm xóc bên trái phía trước cong về sau. Mặt sau chắn bùn bánh trước ép sát vào bộ phận tản nhiệt động cơ.
* Khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Văn S xác định:
- Khám ngoài: Hai mắt nhắm, xung quanh hai mắt bầm tím, niêm mạc xung huyết, đồng tử giãn. Hai lỗ mũi và miệng có máu chảy ra khi thay đổi tư thế. Vùng gò má hai bên đến môi dưới và vùng cằm có diện sây sát da kích thước (20x17)cm. Gãy sập xương gò má, hàm trên và xương chính mũi.
Vùng ngực, bụng, lưng, mông: T2 ngực bên trái mất vững; vùng ngực phải ngay dưới bờ vai phải và sát đường giữa có diện sây sát da kích thước (17x14)cm; vùng ngực trái ngay dưới núm vú trái, cách đường giữa 6cm có diện sây sát da và bầm tím kích thước (13x12)cm, trong đó vết sây sát da dưới núm vú 5,5 cm và cách đường giữa 7cm có kích thước (3x3)cm. Bụng chướng; vùng hạ sườn phải ngay dưới bờ sườn đến vùng cạnh rốn bên phải có diện bầm tụ máu kích thước (13x11)cm. Tay, chân: Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có diện sây sát da kích thước (6,5x3,5)cm; mặt sau cổ tay phải đến mu bàn tay có diện bầm tím kích thước (16x6)cm. Tay trái không phát hiện thấy tổn thương. Mặt sau trong 1/2 dưới đùi phải có diện bầm tím kích thước (20x10)m; mặt sau trong 1/3 trên cẳng chân phải có diện bầm tím kích thước (15x11)cm. Mặt trong 1/2 dưới đùi trái đến mặt trong khớp gối trái có diện bầm tím kích thước (24x13)cm; mặt trước 1/3 dưới cằng chân trái đến mu bàn chân trái có diện sây sát da và bầm tím diện (20x8)cm.
- Khám trong:
Giải phẫu vùng ngực: Da, cơ vùng ngực màu thuần nhất. Gãy cung trước xương sườn số 2 đến số 6 bên phải và cung trước xương sườn số 2 đến số 6 bên trái. Khoang lồng ngực bên phải khô; khoang lồng ngực bên trái có chứa ít máu không đông; bề mặt phổi màu hồng nhạt; mặt cắt phổi có ít dịch máu. Bao tim còn nguyên vẹn; các van tim mềm mại không phát hiện thấy tổn thương. Trong lòng khí phế quản có chứa máu, niêm mạc khí phế quản xung huyết.
Giải phẫu vùng bụng: Da, cơ vùng bụng màu thuần nhất. Trong khoang ổ bụng có chứa nhiều máu không đông (khoảng 3 lít). Mặt gan nhẵn, nhu mô mềm không phát hiện thấy tổn thương. Dập rách phức tạp toàn bộ mạc treo, hỗng tràng và hồi tràng. Bầm dập, tụ máu mặt trước cột sống thắt lưng. Các tạng khác trong khoang ổ bụng không phát hiện thấy tổn thương. Mở dạ dày thấy trong lòng dạ dày có ít dịch lẫn máu.
Không giải phẫu vùng đầu do gia đình kiên quyết từ chối. Thu giữ mẫu máu của anh Nguyễn Văn T.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 2002/KL-KTHS ngày 17/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn S, sinh năm 1978; HKTT: khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là đa chấn thương: chấn thương hàm mặt, chấn thương ngực kín và chấn thương bụng kín. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương vùng hàm mặt, vùng ngực và vùng bụng của nạn nhân do các vùng này tác động trực tiếp với vật tày diện rộng gây ra.”
Ngày 04/9/2024, phòng K1 Công an tỉnh B có công văn phúc đáp số 606/CV-PC09 thể hiện: “Các tổn thương vùng hàm mặt, vùng ngực và vùng bụng trên cơ thể nạn nhân không thể hiện rõ đặc điểm (hình dạng, kích thước...) của vật gây ra thương tích nên không có đủ cơ sở khoa học để kết luận vật tày diện rộng ở đây là vật gì.”
Tại Kết luận giám định số 2012/KL- KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh B kết luận: “Mẫu máu thu của Nguyễn Văn S là nhóm máu O. Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường vụ tai nạn giao thông và mẫu chất màu nâu đỏ thu tại gương chiếu hậu bên lái xe ô tô BKS:99L-1527 là máu người, cùng nhóm máu với máu tử thi Nguyễn Văn S.”
Tại Kết luận giám định số 2061/KL- KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh B kết luận: “- Dấu vết trượt xước, bám chất màu trắng tại mặt trước trên chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển số 99G1 - 036.97 có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên và từ phải sang trái, phù hợp với dấu vết trượt, bám chất màu đỏ tại mặt trước dưới đầu bên trái cản trước trên xe ô tô biển số 99L-1527. Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 99L-1527 tại vị trí này có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
- Dấu vết trượt, mất sơn tại cạnh trước ốp nhựa xung quanh đèn báo rẽ trước bên trái trên xe mô tô biển số 99G1-036.97 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết in, trượt, bám chất màu đỏ tại mặt đèn báo rẽ trước bên trái trên xe ô tô biển số 99L-1527. Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 99L-1527 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện.”
Tại Kết luận giám định số 2228/KL- KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh B kết luận: “Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 99G1-036.97 và xe ô tô biển số 99L-1527 tại hiện trường là trên mặt đường Đ, phần đường chiều từ Q đến D, nằm trong vùng từ trục trước xe mô tô biển số 99G1-036.97 đến đầu trục trước bên trái xe ô tô biển số 99L-1527 (theo chiều đi của phần đường), từ trục trước xe mô tô biển số 99G1-036.97 đến tim đường.”
Tại Kết luận giám định số 2071/KL- KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Chất màu đỏ thu tại cản phía trước bên trái xe ô tô BKS: 99L-1527 gửi giám định là sơn, cùng loại với mẫu sơn đỏ thu tại chắn bùn bánh trước xe mô tô BKS: 99G1-036.97."
Tại Kết luận giám định số 2258/KL- KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp video lưu trữ trong đĩa DVD mẫu cần giám định.
- Đã trích xuất bản ảnh trong tệp video.
- Không tìm thấy dữ liệu liên quan đến vụ tai nạn giao thông lưu trữ trong thẻ nhớ MicroSD mẫu cần giám định.”
Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định trưng cầu V1 giám định tỷ lệ phần trăm thương tích của anh Nguyễn Văn K và anh Vũ Đức M và ngày 29/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định dẫn giải số 2417, 2418 đối với anh K, anh M. Tuy nhiên anh K, anh M đều cương quyết từ chối giám định thương tích.
Tại Kết luận định giá tài sản số 262/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B có kết luận: “Thiệt hại xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, số loại Canter, biển kiểm soát 99L-1527 là: 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng); Giá trị tài sản thiệt hại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 99G1-036.97 là: 1.030.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).”
- Tại kết quả xét nghiệm sinh hóa máu của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định Nguyễn Văn S nồng độ cồn trong máu là 158 mg/100ml.
- Kết quả kiểm tra cồn, ma túy đối với Nguyễn Văn T xác định Nguyễn Văn T âm tính với ma túy và không có nồng độ cồn.
- Tại Biên bản xác minh tại Sở giao thông vận tải tỉnh B xác định: Nguyễn Văn S, sinh ngày 14/2/1978, HKTT: khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, số CCCD: [...], số CMT: [...] chưa được đơn vị có thẩm quyền nào cấp giấy phép lái xe mô tô.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe và là lái xe thuê cho Công ty TNHH H; Địa chỉ: khu Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo Hợp đồng lao động số 02 ngày 25/7/2024. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 08/8/2024 T điều khiển xe ô tô BKS: 99L-1527 của công ty đi trên đường Đ theo hướng từ Dốc Đặng đi Q, đi cùng trên xe có anh Trịnh Đắc T3, sinh năm 1986; HKTT: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang (là phụ xe). Khi đi gần đến ngã ba xóm A, mặc dù đoạn đường này cong, khuất tầm nhìn nhưng T vẫn điều khiển xe ô tô ra giữa đường, lấn sang phần đường của các xe đi theo chiều ngược lại. Khi này, anh Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô BKS: 99G1-036.97 chở theo sau anh Nguyễn Văn K và anh Vũ Đức M di chuyển theo hướng ngược chiều từ Q đi D vào ngã ba. Lúc này, T không kịp đánh lái tránh mà chỉ đạp phanh để giảm tốc độ của xe ô tô, nên phần mặt trước dưới đầu bên trái cản trước trên xe ô tô do T điều khiển va vào mặt trước trên chắn bùn bánh trước của xe mô tô do anh S điều khiển. Hậu quả, anh S tử vong, anh K và anh M bị xây sát nhẹ.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc tai nạn giao thông, Nguyễn Văn T và Công ty B cho gia đình anh Nguyễn Văn S số tiền 95.000.000 đồng, gia đình anh S không có yêu cầu đề nghị gì khác. Đối với anh Vũ Đức M và anh Nguyễn Văn K chỉ bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu T phải bồi thường trách nhiệm dân sự. Đối với Công ty TNHH H bị thiệt hại xe ô tô, chị Lê Thị M2 là giám đốc công ty không yêu cầu T phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.
Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2024/HSST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử và tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt 14 tháng tù là nặng, bị cáo trình bày hiện nay bố mẹ đã già yếu, bố bị cáo thường xuyên đau ốm, gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương chiến công hạng ba, đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Văn T có kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 20 phút ngày 08/8/2024, tại đường Đ, khu Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô BKS 99L-1527 theo hướng từ Dốc Đặng đi Q lấn làn đường, va chạm với xe mô tô BKS 99G1-036.97 do anh Nguyễn Văn S điều khiển di chuyển theo hướng ngược chiều, đằng sau chở anh Nguyễn Văn K và anh Vũ Đức M. Hậu quả: anh S tử vong, anh K và anh M bị thương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là điều khiển xe ô tô lấn làn đường gây tai nạn giao thông đã vi phạm Điều 9 Luật Giao thông đường bộ 2008, gây hậu quả 01 người tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mối lo ngại cho mọi người khi tham gia giao thông trên đường, do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại nên bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn bộ vụ án và xử phạt bị cáo 14 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, đó là bố bị cáo là ông Nguyễn Văn T1 được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX xét thấy, tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý, bị hại cũng có một phần lỗi. Do vậy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần mở lượng khoan hồng cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện, có ích cho xã hội. Từ nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 24/3/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Hữu Hòa |
Bản án số 10/2025/HS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 10/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả chết 01 người
