|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HSST
Ngày: 21-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khiêm
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Tấn Lạc
2. Ông Lý Hồng Hạnh
Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Khang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXX-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Ú, sinh ngày 01/01/1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1938 (chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1940 (sống). Anh Chị E ruột: 10 người, lớn nhất sinh năm 1958, nhỏ nhất sinh năm 1983; Vợ, con: không có.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/9/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/9/1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1951 (chết) và bà Trần Thanh H, sinh năm 1953 (chết). Anh Chị E ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1988; Vợ, con: không có.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
* Người bị hại: Ông Trần Văn Út N, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có Mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Văng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Ú và Nguyễn Văn Đ là bạn cùng xóm và thường xuyên uống rượu cùng nhau. Khoảng 08 giờ sáng ngày 20/8/2024 Đ và Ú cùng nhau uống rượu ở phía sau nhà Ú tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Trong lúc uống rượu thì Ú thấy có 1 con rắn bò từ nhà Ú sang nhà anh Trần Văn Út N nên Ú chạy theo sang nhà anh Út N định bắt con rắn nhưng không bắt được. Lúc này, Ú nhìn thấy trên nền gạch trong nhà Út N có để 03 cái điện thoại loại cảm ứng (01 điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen, 01 điện thoại hiệu Realmi C53 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen) nhưng không thấy ai trông coi nên Ú đã lấy 03 cái điện thoại trên để vào túi quần rồi đi về nhà. Về đến nhà Ú lấy từ trong túi quần ra 03 cái điện thoại vừa trộm được đưa cho Đ 01 cái điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen và nói vừa lấy được bên nhà Út N. Đẹp hiểu điện thoại trên là do Ú lấy trộm được của Út N do thường ngày Ú chỉ sử dụng điện thoại bàn phím. Ú mang 02 cái điện thoại còn lại gồm 01 điện thoại hiệu Realmi C53 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen ra cất giấu ở mộ cha của Ú. Khoảng 01 giờ đồng hồ sau, khi nghe Út N truy hô mất trộm 03 cái điện thoại. Đẹp biết điện thoại cảm ứng Ú đưa cho Đ và 02 điện thoại Ú cất giữ là do Ú lấy trộm được của Út N nhưng Đ vẫn giữ lại mà không trả. Đến 14 giờ cùng ngày Đ đến nhà bạn tên D ở xã T uống rượu và bán lại điện thoại trên cho anh Trần Văn L với giá 250.000 đồng. Khi bán Đ nói điện thoại của đứa cháu cho nên L không biết điện thoại do trộm cắp mà có. Đến ngày 24/8/2024 Ú mang 01 điện thoại cảm ứng hiệu Realmi C53 màu vàng đến cửa hàng điện thoại Thái Bình, địa chỉ ấp T, thị trấn T do ông Nguyễn Xuân B làm chủ với giá 1.000.000 đồng nhưng B không biết điện thoại do trộm cắp mà có (Bút lục 129-133).
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen; 01 điện thoại hiệu Realmi C53 màu vàng; 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen; 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi kẻ sọc Caro lớn màu trắng;
Tại kết luận định giá tài sản số 441/KL-HĐĐG ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện T kết luận.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realmi C53, số IMEI 1: -254811, đã qua sử dụng, có giá là 2.200.000 đồng.
3
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realmi C11, số IMEI 1: -156396, đã qua sử dụng, có giá là 800.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A02s, số IMEI 1: -987599, đã qua sử dụng, có giá là 700.000 đồng. (Bút lục 88-89)
Quá trình điều tra Ú thừa nhận vào ngày 20/8/2024 Ú sang nhà Út N lấy trộm 03 điện thoại như nêu trên sau đó cho Đ 01 cái và nói lấy trộm được bên nhà Út N. 02 điện thoại còn lại Ú cất giấu, đến ngày 24/8/2024 mang 01 điện thoại hiệu Realmi màu vàng đến cửa hàng điện thoại Thái B1 cầm được 1.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. 01 điện thoại còn lại Ú cất giấu cho đến khi công an mời làm việc.
Nguyễn Văn Đ Khai nhận: Ngày 20/8/2024 khi nhận điện thoại từ Ú cho và khi nghe Út N truy hô mất điện thoại thì Đ biết điện thoại cảm ứng Ú đưa cho Đ và 02 điện thoại Ú cất giữ là do Ú lấy trộm được của Út N nhưng Đ vẫn giữ lại mà không trả. Sau đó, Đ bán lại điện thoại trên cho anh Trần Văn L với giá 250.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 03 cái điện thoại loại cảm ứng (01 điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen, 01 điện thoại hiệu Realmi C53 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen) đã trả lại cho bị hại theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 325 ngày 25/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (Bút lục: 31-32). Tất cả các vật chứng còn lại của vụ án được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý. Riêng 01 đĩa ghi âm, ghi hình buổi hỏi cung bị can và 01 đĩa ghi hình Ú cầm điện thoại lưu hồ sơ vụ án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn Út N không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nguyễn Văn Ú đã bồi thường cho ông Nguyễn Xuân B số tiền 1.000.000 đồng. Trần Văn L yêu cầu Nguyễn Văn Đ bồi thường 250.000 đồng nhưng Đ chưa thực hiện. Đối với ông Trần Văn L đã mua điện thoại của Đ và ông Nguyễn Xuân B đã cầm điện thiện thoại của Ú nhưng không biết điện thoại do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý hình sự đối với L và B.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-TL ngày 19 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã truy tố Nguyễn Văn Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội: giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, không bổ sung gì thêm về nội dung cáo trạng, đồng thời phân
4
tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ; tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 06 tháng đến 9 tháng tù. Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn Đ tự nguyện bồi thường cho ông Trần Văn L số tiền 250.000đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: đề nghị tuyên tiêu huỷ 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi kẻ sọc Caro lớn màu trắng.
Bị cáo Nguyễn Văn Ú, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng tội danh. Các bị cáo thấy có lỗi và tại phiên toà hôm nay bị cáo Ú, bị cáo Đ chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bị hại ông Trần Văn Út N trình bày: ông đã nhận lại các tài sản bị mất cắp, nên không có yêu cầu gì, ông xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Trần Văn L không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án; mặt khác ông L đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của ông trước phiên toà nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Ú, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đối chiếu với Biên bản ghi khai, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của những người tham gia tố tụng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ sáng ngày 20/8/2024 bị cáo Đ và bị cáo Ú cùng nhau uống rượu ở phía sau nhà Ú tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Trong lúc uống rượu thì bị cáo Ú thấy có 1 con rắn bò từ nhà bị cáo sang nhà anh Trần Văn Út N nên Ú chạy theo sang nhà anh Út N định bắt con rắn nhưng không bắt được. Lúc này, Ú nhìn thấy trên nền gạch trong nhà Út N có để 03 cái điện thoại loại cảm ứng (01 điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen, 01 điện
5
thoại hiệu Realmi C53 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen) nhưng không thấy ai trông coi nên bị cáo Ú đã lấy 03 cái điện thoại trên để vào túi quần rồi đi về nhà. Về đến nhà Ú lấy từ trong túi quần ra 03 cái điện thoại vừa trộm được đưa cho bị cáo Đ 01 cái điện thoại hiệu SamSung A02S màu đen và nói vừa lấy được bên nhà Út N. Bị cáo Đ hiểu điện thoại trên là do bị cáo Ú lấy trộm được của bị hại Út Nhỏ do thường ngày bị cáo Ú chỉ sử dụng điện thoại bàn phím. Bị cáo Ú mang 02 cái điện thoại còn lại gồm 01 điện thoại hiệu Realmi C53 màu vàng, 01 điện thoại hiệu Realmi C11 màu đen ra cất giấu ở mộ cha của bị cáo. Khoảng 01 giờ đồng hồ sau, khi nghe bị hại Út N truy hô mất trộm 03 cái điện thoại. Bị cáo Đ biết điện thoại cảm ứng bị cáo Ú đưa cho Đ và 02 điện thoại bị cáo Ú cất giữ là do Ú lấy trộm được của bị hại nhưng bị cáo Đ vẫn giữ lại mà không trả. Đến 14 giờ cùng ngày bị cáo Đ đến nhà bạn tên D ở xã T uống rượu và bán lại điện thoại trên cho anh Trần Văn L với giá 250.000 đồng. Khi bán bị cáo Đ nói điện thoại của đứa cháu cho nên anh L không biết điện thoại do trộm cắp mà có. Đến ngày 24/8/2024 bị cáo Ú mang 01 điện thoại cảm ứng hiệu Realmi C53 màu vàng đến cửa hàng điện thoại Thái Bình, tại địa chỉ ấp T, thị trấn T do ông Nguyễn Xuân B làm chủ với giá 1.000.000 đồng nhưng B không biết điện thoại do trộm cắp mà có (Bút lục 129-133), từ nhưng tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử thấy rằng, 03 chiếc điện thoại nêu trên là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại Trần Văn Út N được pháp luật bảo vệ. Cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Ú đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự vì thế cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ú và bị cáo Nguyễn Văn Đ là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tặng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Chính bị cáo Ú, bị cáo Đ hiểu rõ nhất về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đặc biệt là xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, không chăm lo lao động bằng công sức của mình mà chỉ muốn hưởng thụ, do đó cần có hình phạt nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và ngăn ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến các yếu tố là trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ú, bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn của bị cáo thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, tài sản bị mất đã được thu hồi trả lại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn Đ tự nguyện bồi thường cho ông Trần Văn L số tiền 250.000 đồng.
6
[5] Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi kẽ sọc Caro lớn màu trắng tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Cần Thơ.
[6] Về án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Ú, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Ú, bị cáo Nguyễn Văn Đ và đương sự khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 và Điều 136,Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ú 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Văn Đ tự nguyện bồi thường cho ông Trần Văn L số tiền 250.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 quần Jean dài màu xanh (đã qua sử dụng), 01 áo sơ mi kẻ sọc Caro lớn màu trắng (đã qua sử dụng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Cần Thơ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 3 năm 2025.
Bị cáo Nguyễn Văn Ú, bị cáo Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người bị hại được quyền kháng cáo. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
7
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ;
- - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
- - Viện KSND H. Thới Lai;
- - Nhà Tạm giữ Công an H. Thới Lai;
- - Chi cục T.H.A Dân sự H. Thới Lai;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thanh Khiêm
8
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Lý Hồng Hạnh Phan Tấn Lạc |
Lê Thanh Khiêm |
Bản án số 10/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 10/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Út, Đẹp
