Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HSST

Ngày 21-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Giang

Bà Trần Thị Mai Lê

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Hoàng Chí C, sinh ngày 20/01/1990; Nơi cư trú: khu A, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và con bà Lê Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/01/2025, đến ngày 21/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 đến ngày 21/3/2025 theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26/LC - CQĐT ngày 21/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Nguyễn Quang H, sinh ngày 28/08/2003; Nơi cư trú: Khu H, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và con bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/01/2025, đến ngày 21/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 đến ngày 21/3/2025 theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 27/LC - CQĐT ngày 21/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

3. Bị cáo Hoàng Văn S, sinh ngày 01/01/1962; Nơi cư trú: Khu A, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T2 và con bà Hoàng Thị H1; vợ: Hoàng Thị T3, con: có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/01/2025, đến ngày 21/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2025 đến ngày 21/3/2025 theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 25/LC - CQĐT ngày 21/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu H, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 05 phút, ngày 15/01/2025, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại chỗ ở của Hoàng Văn S có tàng trữ pháo hoa nổ. Tổ công tác Công an huyện P phối hợp với chính quyền địa phương đã tiến hành kiểm tra, xác minh làm việc. Quá trình làm việc, S khai nhận đang tàng trữ pháo hoa nổ để đốt vào dịp Tết Nguyên đán 2025 và tự nguyện giao nộp 01 thùng bìa cát tông màu vàng, có in số, chữ nước ngoài màu đen, mở ra bên trong có 45 vật có đặc điểm một đầu hình cầu màu trắng có đường kính 6cm, một đầu hình nón cụt màu vàng có đường kính 3,5cm, chiều cao trung bình 9,5cm, ở giữa có gắn 01 đoạn dây dẫn màu xanh có chiều dài trung bình 30cm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc; thu giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu sau:

  • + 01 thùng bìa cát tông màu vàng có đặc điểm như nêu trên;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng, lắp sim số 0335.070.235, số iemi 1: 352766247974322; số imei 2: 352766247974330.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn S, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 31 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh P giám định 45 vật trong thùng bìa cát tông đã thu giữ của Hoàng Văn S.

Tại Bản kết luận giám định số: 94/KLGĐ ngày 17/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận: “45 (bốn mươi lăm) vật đều có đặc điểm một đầu hình cầu màu trắng đường kính trung bình 6cm, một đầu hình nón cụt màu vàng chóp cụt có đường kính trung bình 3,5cm, chiều cao vật trung bình 9,5cm, ở giữa vật có gắn một đoạn dây dẫn màu xanh có chiều dài trung bình 30cm gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt gây ra tiếng rít, tiếng nổ và tạo ra hiệu ứng màu sắc trong không gian). Tổng khối lượng của 45 vật tả trên là 6,1kg (Sáu phẩy một kilôgam).

* Pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1, điều 3 của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của chính phủ về quản lý và sử dụng pháo.

Kèm theo kết luận giám định: Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

H2 lại đối tượng giám định: 5,5kg (năm phảy năm kilogam) pháo hoa nổ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín bằng băng dính màu trắng và 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh P và 03 chữ ký của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong.”

Về nguồn gốc lượng pháo hoa nổ thu giữ của Hoàng Văn S, S khai nhận mua của Hoàng Chí C và Nguyễn Quang H với giá 13.500.000 đồng.

Ngày 15/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã triệu tập Hoàng Chí C và Nguyễn Quang H để làm việc, quá trình làm việc, C, H đều khai nhận về hành vi sản xuất pháo hoa nổ để bán cho Hoàng Văn S và tự nguyện giao nộp:

  • - 03 đoạn dây dạng hình trụ, vỏ màu xanh, đường kính trung bình 0,2cm. Mỗi cuộn dây có chiều dài 10m;
  • - 01 cuộn dâu dạng hình tròn vỏ nhiều màu sắc, đường kính trung bình 0,6cm, dài 2,07m;
  • - 01 cuộn dây dẹt, vỏ màu vàng, độ rộng trung bình 1cm, đường kính trung bình 0,2cm; dài trung bình 2,48m;
  • - 35 dây đều có đặc điểm là dây dẹt, màu vàng, độ rộng trung bình 1cm, dài 25cm. Một phần dây dạng hình trụ, vỏ màu xanh, có đường kính trung bình 0,2cm, dài 12m;
  • - 05 túi, hộp nhựa màu trắng, bên trong chứa nhiều hạt màu đen, chất bột màu đen, màu xám đen;
  • - 05 đoạn nhựa hình trụ tròn, dài 0,7cm, đường kính trung bình 26cm;
  • - 37 hộp bìa giấy cứng dạng hình nón cụt, màu nâu, chiều cao 5,5cm; đáy có đường kính trung bình 6,7cm, một đáy bịt kín có đường kính trung bình 3,5cm;
  • - 44 hộp bìa cát tông có dạng hình bán cầu, màu vàng, có đường kính trung bình bên trong 6cm, bên ngoài 6,6cm, cao trung bình 3,3cm;
  • - 07 cuộn băng keo đã qua sử dụng;
  • - 01 vật nhựa, màu xanh, hình thía, kính thước 11,3cm x 3,8cm x 2,8cm;
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Air Blade, màu đỏ - trắng – đen, biển số 19E-112.56, số máy: JF46E4203330, số khung: 4607DY322126.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, đã cũ, số seri: FK1ZT58GN70D, lắp sim số: 0971.206.754 của Nguyễn Quang H.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, đã cũ, số seri: FCJCR0ECN70D, lắp sim số: 0974.193.369 của Hoàng Chí C.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của C và H, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành kiểm tra điện thoại của C và H có nhiều cuộc gọi đến số điện thoại 0335.070.xxx của Hoàng Văn S để trao đổi mua bán pháo hoa nổ, ngoài ra có lưu trữ nhiều hình ảnh về việc sản xuất pháo hoa nổ của C và H tại nhà ở của C.

Ngày 16/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 36 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh P giám định những đồ vật đã thu giữ của C và H có liên quan đến hành vi sản xuất pháo hoa nổ.

Tại Bản kết luận giám định số: 100/KLGĐ ngày 20/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận:

“+ 05 (năm) đoạn nhựa hình trụ tròn, dài..... là vật liệu để sản xuất pháo hoa nổ.

+ 03 (ba) cuộn dây dạng hình trụ, vỏ màu xanh... Gửi đến giám định đều là dây ngòi pháo. Tổng khối lượng của mẫu vật gửi đến giám định là 0,3kg (Không phẩy ba kilôgam).

+ Chất màu đen bám dính trên vỏ chấu, Hạt mầu đen trong 01 hộp nhựa màu trắng; chất bột xám màu đen bên trong 01 túi nilon dạng túi zip, hạt dạng hình cầu mầu xám đen, hạt dạng hình cầu mầu đen,... đều là thành phần chính của thuốc pháo nổ (pháo hoa nổ) ...

Tổng khối lượng của thuốc pháo nổ (phóa hoa nổ) là: 2,285kg (Hai phảy hai tám lưm kilôgam).

+ Các mẫu vật gửi giám định có cùng thành phần với loại thuốc pháo nổ (pháo hoa nổ) trong 45 vật trong vụ Hoàng Văn S, sinh năm 1962, nơi thường trú: Khu A, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép hàng cấm nghi pháo hoa nổ phát hiện ngày 15/01/2025.

* Pháo hoa nổ được quy định tại Chương I, điều 3, khoản 1, điểm a của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của chính phủ về quản lý và sử dụng pháo.

* Thuốc pháo nổ được quy định tại Chương I, điều 3, khoản 2, điểm a của Nghị định số: 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của chính phủ về quản lý và sử dụng pháo.”

Kèo theo Kết luận giám định:Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

H2 lại đối tượng giám định:

  • + Trả lại toàn bộ mẫu vật trong 01 túi niêm phong, một mặt ghi Mã số: PS1A 074904....
  • + Trả lại 0,2kg dây ngòi pháo...
  • + Trả lại 1,75kg thuốc pháo nổ...”

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn S, Hoàng Chí C, Nguyễn Quang H khai nhận về hành vi sản xuất, mua bán, tàng trữ hàng cấm như sau:

Khoảng tháng 12/2024, do có nhu cầu đốt pháo hoa nổ vào dịp Tết nguyên đán năm 2025 nên Hoàng Chí C và Nguyễn Quang H đã xem video hướng dẫn sản xuất pháo hoa nổ trên mạng xã hội Youtube (xem trên điện thoại Iphone 11 Promax của H) và thống nhất cùng nhau mua nguyên liệu về để sản xuất pháo. Cả hai cùng nhau mua nguyên liệu bao gồm: Hóa chất KCL, than, lưu huỳnh, bóng giấy hình tròn, viên phát sáng, trấu, dây dẫn, keo 502, cốc giấy, băng dính giấy trên mạng xã hội (hóa chất KCL, than, lưu huỳnh được trộn sẵn và làm thành những viên hóa chất hình tròn màu đen và một phần dạng bột). Đến đầu tháng 01/2025, Hoàng Văn S có nhu cầu đốt pháo hoa nổ nên đã sang nhà Hoàng Chí C hỏi có biết ai bán pháo hoa nổ hay không để mua; thấy việc bán pháo hoa nổ có lợi nhuận nên C và H bàn bạc và thống nhất về việc sẽ sản xuất pháo hoa nổ để bán cho S 45 quả pháo nổ với giá 300.000 đồng/ 01 quả (tổng số tiền là 13.500.000 đồng) và sẽ mang pháo cho S nhiều lần. Sau khi mua được đầy đủ nguyên liệu, C và H mang về nhà C ở khu A, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ để cùng nhau chế tạo pháo hoa nổ với cách thức như sau: Quả bóng giấy sẽ được chia làm 02 nửa, H và C đục thủng một lỗ nhỏ trên 01 nửa quả bóng giấy rồi cho dây dẫn qua lỗ, dùng keo dán kín phần gắn dây dẫn lại. Sau đó, C và H cho những viên hóa chất vào trong lòng của 02 nửa quả bóng giấy, cho thêm trấu trộn sẵn KCL, lưu huỳnh và than, dùng băng dính gắn 02 nửa quả bóng giấy chứa hỗn hợp trên vào nhau thành một hình tròn rồi tiếp tục gắn 01 cốc giấy chứa hỗn hợp hóa chất như trên vào phần dây dẫn của quả bóng giấy chứa hóa chất, nối 01 đoạn dây dẫn màu xanh vào phần hóa chất trong cốc giấy và dán kín phần gắn giữa cốc giấy với bóng giấy thành 01 quả pháo nổ thành phẩm. Với quá trình như vậy, C và H làm được 22 quả pháo. Đến khoảng 19 giờ ngày 08/01/2025; C và H mang 22 quả pháo hoa nổ (loại pháo trứng) đến nhà Hoàng Văn S và bảo S thanh toán trước số tiền 6.000.000 đồng. Do chưa đủ tiền nên sau khi nhận pháo, S trả cho C và H số tiền 3.000.000 đồng (bao gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), H cầm tiền và đưa cho C 1.500.000 đồng. Đến ngày 09/01/2025, S đã gặp C và thanh toán nốt số tiền 3.000.000 đồng (bao gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng), số tiền này C chưa đưa cho H. Sau đó, C và H tiếp tục sản xuất được 23 quả pháo hoa nổ, đến khoảng 22 giờ ngày 14/01/2025, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển số 19E1-112.56 (xe mô tô đăng ký tên chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ - mẹ đẻ của H) chở chị Lò Thị D, sinh năm 2005, nơi thường trú: Xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nhà C chơi. Tại đây, C nói với H đi sang nhà của S. Biết là đi giao pháo hoa nổ nên H đi xe mô tô sang còn C đi bộ cầm túi đựng pháo hoa. Đến nơi, H và C đi bộ vào gặp Hoàng Văn S (chị D ngồi ở xe mô tô đợi). Gặp nhau, H và C đưa cho S 23 quả pháo hoa nổ và bảo S thanh toán 7.500.000 đồng như đã thỏa thuận. Sáu cầm pháo nhưng chưa có tiền nên S bảo với C sẽ trả sau. Sau khi đưa pháo xong, C đi về nhà còn H và chị D đi chơi (kiểm tra camera an ninh tại nhà ở của Hoàng Văn S đã thể hiện diễn biến sự việc). Đến rạng sáng ngày 15/01/2025, khi đang tàng trữ pháo hoa nổ thì Hoàng Văn S bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 18/CT-VKSPN ngày 07/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Hoàng Chí C, Nguyễn Quang H về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS và bị cáo Hoàng Văn S về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo C, H, S và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; án lệ 48.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Chí C phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

Đề nghị xử phạt: bị cáo Hoàng Chí C từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Chí C cho UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã A trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đổi với bị cáo C.

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; án lệ 48.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang H từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đổi với bị cáo H

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn S06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Văn S cho UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã A trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đổi với bị cáo S.

  1. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a,b,c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy cát tông được niêm phong dán kín, có kích thước 25 cm x 50cm x 28,5 cm, bên trong chứa pháo hoa nổ, bên ngoài hộp có dán 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P, tỉnh Phú Thọ và 06 loại chữ ký của các thành phần có liên quan với tổng khối lượng là 5,5kg; 01 hộp giấy cát tông được niêm phong dán kín, chứa hóa chất sản xuất pháo hoa nổ, bên ngoài in chữ “Cleverup” có kích thước 32 cm x 22,5 cm x 23 cm và được dán 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 công an tỉnh P và các loại chữ ký của các thành phần có liên quan với tổng khối lượng là 2,4 kg; 01 hộp bìa cát tông, trên hộp có chữ “QUALITY”, kích thước 31 cm x 23 cm x 23 cm, bên ngoài được dán kín bằng 04 giấy trắng, trên mỗi giấy có chữ ký của các thàh phần tham gia biên bản và có hai hình dấu tròn màu đỏ của phòng K1 công an tỉnh P; 01 túi giấy niêm phong một mặt ghi mã số: PS1A 074904 của Phòng K1 công an tỉnh P (trên túi niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã A, huyện P) vì là vật nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng và có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0335.070.xxx của bị cáo S; 01 sim điện thoại số: 0971.206.xxx của bị cáo H; 01 sim điện thoại số 0974.193.xxx của bị cáo C vì có liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã cũ, đã qua sử dụng có số IMEI 1: 352766247974322, IMEI 2: 352766247974330 của bị cáo S; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu trắng, đã cũ, đã qua sử dụng, mặt sau bị nứt, vỡ, có số sê-ri: FK1ZT58GN70D của Nguyễn Quang H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, đã cũ, đã qua sử dụng có số sêri: FCJCR0ECN70D của Hoàng Chí C;
  • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE, màu đỏ - trắng – đen, số máy JF46E4203330, số khung 4607DY322126, mang BKS 19E-112.56, xe đã cũ, đã qua sử dụng tên chủ xe là chị Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ bị cáo H). (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/03/2025 và ngày 14/03/2025)
  • - Xác nhận bị cáo H đã nộp lại số tiền thu lời bất chính là 1.500.000đ theo biên lai thu tiền số 0001257 ngày 10/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh và bị cáo C đã nộp lại số tiền 4.500.000đ thu thời bất chính theo biên lai thu tiền số 0001256 ngày 10/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh từ việc bán pháo và sung ngân sách nhà nước số tiền nêu trên.
  • - Tịch thu của bị cáo S số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo S mua pháo bị cáo C, bị cáo H để sung ngân sách nhà nước.
  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 135, khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo C, H, S mỗi bị cáo chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo C, H, S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T1 có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ công an tỉnh Phú Thọ;
  • - THAHS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã An Đạo, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Phú Lâm, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Anh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "sản xuất, buôn bán hàng cấm" và "tàng trữ hàng cấm" (pháo hoa nổ)

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Sơ thẩm về tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm" và "Tàng trữ hàng cấm" (Pháo hoa nổ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger