Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 03 - 2025

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Dương

Ông: Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T - Sinh năm: 1987;
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn T1 - Sinh năm: 1983
  • Đều có địa chỉ: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Vũ Thị T trình bày như sau:

Chị và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là phường H, tx. N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 01/02/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị có nhiều bất đồng quan điểm, hai bên không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn trong suốt thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn T1 có quan điểm như sau:

Vợ chồng anh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là phường H, tx. N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 01/02/2008. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường, không có mâu thuẫn gì xảy ra. Sau khi chị T đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan về lần đầu thì anh muốn chị ở nhà nhưng chị T không nghe nên hai vợ chồng xảy ra bất đồng về quan điểm từ đó, tuy nhiên hai bên vẫn liên lạc với nhau bình thường, nhưng tình cảm đã không còn gần nhau nữa. Nay chị T về làm đơn ly hôn, bản thân anh không muốn ly hôn, muốn vợ chồng đoàn tụ để con cái có 01 gia đình trọn vẹn. Tuy nhiên, anh xác định anh và chị T đã sống ly thân nhiều năm nên không thể hàn gắn và đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu: Lê Anh D – Sinh ngày: 11/12/2008. Hiện tại, cháu D đang ở cùng anh T1. Nay ly hôn, chị T có nguyện vọng để cho anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu, do điều kiện kinh tế của chị chưa ổn định nên tạm thời chị chưa cấp dưỡng nuôi con cùng anh T1. Anh T1 cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu D và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Nguyện vọng của cháu Anh D muốn được ở với bố.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 55, khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Lê Văn T1. Về con chung: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự giao cháu Lê Anh D cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh T1. Chị T được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí DSST về việc hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn T1 là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cả chị T và anh T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong suốt thời gian chung sống, vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh chị đã nhiều lần hòa giải tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy hiện tại chị T và anh T1 mỗi người một nơi. Quá trình giải quyết vụ án chị T và anh T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Do chị T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án không thể lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành mà buộc phải đưa vụ án ra xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của chị T và anh T1.

[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu: Lê Anh D – Sinh ngày: 11/12/2008. Hiện tại, cháu D đang ở cùng anh T1. Cháu D cũng có nguyện vọng ở với bố. Nay ly hôn cả chị T và anh T1 đều thống nhất giao con cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi, do điều kiện kinh tế của chị T chưa ổn định và anh T1 cũng không yêu cầu cấp dưỡng. Vì vậy, HĐXX chấp nhận sự thỏa thuân của các đương sự giao cháu D cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu D, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1. Chị T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị T lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T1 được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị T.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 55; khoản 2 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị T.

  1. 1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Vũ Thị T và anh Lê Văn T1.
  2. 2. Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu: Lê Anh D – Sinh ngày: 11/12/2008. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị T và anh T1 giao cháu D cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu D.
    • - Về mức cấp dưỡng: Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh T1.
    • - Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Chị T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị T lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T1 được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị T.
  3. 3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
  4. 4. Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0003022 ngày 29/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị T đã thi hành xong phần án phí.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Hải Bình, tx. Nghi Sơn, Thanh Hóa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T (nay là phường H, tx. N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 01/02/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị có nhiều bất đồng quan điểm, hai bên không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn trong suốt thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger