Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình

Ông Phạm Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Trường V, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2001 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn G và bà Sơn Ngọc Đ; vợ Bùi Thúy H; con có 01 người (mới sinh được khoảng 20 ngày); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

  2. Trương Văn Phước T (tên gọi khác: Cu), sinh ngày 19 tháng 5 năm 2000 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp R, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trương Thành M và bà Huỳnh Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 11/5/2024, Nguyễn Trường V điện thoại cho Lê Sơn Đ1 nói chuyện về việc Nguyễn Ngọc N là vợ của Nguyễn Khắc T1 có đăng ảnh của V lên mạng xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín của V. Lúc này, Đ1 đang nhậu cùng T1, Hồ Văn V1, Châu Văn N1, Huỳnh Hữu N2, Lý Văn K, Lê Bảo V2, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Kha B và 03 người nam hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch tại quán N5 trong khu T thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì Đ1 có kêu V đi đến quán 9999 gặp T1 để nói chuyện cho rõ ràng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, V cùng bạn gái tên Bùi Thúy H đi xe taxi từ thành phố Cần Thơ về đến quán nhậu của Phan Hữu T3 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bên cạnh đó, Trương Văn P Trương đang ở chơi cùng với Âu Hữu D và Nguyễn Lê K1 tại nhà của người tên D thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. D rủ T và K1 đi chơi game thì cả 2 đồng ý, khi chạy xe máy đến quán nhậu của Phan Hữu T3 thì dừng lại, do thấy đang tập trung khoảng hơn 20 người nam thanh niên, trong đó có Phan Hữu T3, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Trường V, Nguyễn Nhất H2, Hà Minh P1, Bùi Hữu N3 cùng những người nam thanh niên khác hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Vĩ thấy Âu Út N4 đang uống rượu trong quán của T3 nên đã mượn xe của Út N4 định đi một mình đến quán 9999 để nói chuyện với Nguyễn Khắc T1, khi đi V không rủ ai đi theo, nhưng do lúc đó N3 đang ở quán của T3 thấy V say, sợ V gặp chuyện xấu nên tự ý lên xe ngồi phía sau cho V chở đến quán 9999. Thấy vậy, Phan Hữu T3, Nguyễn Thanh T4, Hà Minh P1, Nguyễn Nhất H2 cũng chạy theo Vĩ do sợ V gặp chuyện, tiếp theo đó K1 chở T và D đi theo phía sau cùng, khi đi thì không có ai mang theo bất cứ hung khí gì. Khi cả nhóm đi đến quán 9999 thì V vào bàn uống rượu ngồi trên ghế ở giữa Đ1 và T1 đang ngồi để nói chuyện. Khi đó, V có nói với T1 về việc Ngà đăng ảnh của V lên mạng xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín của V thì T1 có nói lời xin lỗi nhưng V không đồng ý, cho rằng lời xin lỗi đó không thỏa đáng, sau đó T1 có gọi video cho N nói chuyện với V thì N cũng xin lỗi nhưng V cũng không đồng ý, từ đó đã nảy sinh mâu thuẫn cự cãi giữa V với N qua điện thoại. Lúc này, V cầm cái cái ly thủy tinh có sẵn trên bàn uống rượu đánh T1 nhưng được Đ1 can ngăn nên V không đánh được T1, cả nhóm đi theo V đang ở ngoài cũng ùa vào đứng xung quanh bàn uống rượu của T1 gồm có T, K1, T3 và một số người khác không rõ nhân thân, lai lịch. Tuy nhiên cũng có một số người không có đi theo vào bàn uống rượu mà vẫn đứng bên ngoài quán, V tiếp tục nói chuyện với N, lúc này V có nói câu “nếu tao đánh chồng mày rồi tao xin lỗi được không?”, N trả lời “mày làm gì làm đi”, V nghe

nói vậy thì tiếp tục cầm cái cái ly thủy tinh có sẵn trên bàn nhậu đánh trúng vào vùng đầu của T1 01 (một) cái làm trán của T1 bị thương, thấy vậy Đ1 cùng nhóm bạn của Đ1 nhảy vào can ngăn, V tiếp tục dùng tay đánh vào người của T1, cùng lúc này K1 thấy nhóm của Đ1 đang tràn vào chỗ của V, vì do K1 nghĩ rằng nhóm của Đ1 đang đánh V nên K1 đã lấy cái ghế bằng gỗ trong quán đánh vào đám đông từ trên xuống đã làm trúng Đỉnh, lúc này K1 tiếp tục đẩy Đỉnh té ngã vào bàn uống rượu nên Đ1 không can ngăn được nữa, cùng lúc đó Trương lấy cái ghế bằng gỗ, khung bằng kim loại đánh từ trên xuống trúng vào vùng vai của T1 và có thêm 02 (hai) nam thanh niên khác (không rõ nhân thân, lai lịch) có tham gia đánh T1 bằng tay, lúc này T3 cùng một số người khác can ngăn không cho V đánh T1, ngay lúc đó Đ1 đã dùng ghế nhựa có sẵn trong quán đánh lại K1 thì D dùng ghế nhựa có sẵn trong quán chọi về phía của Đ1 nhưng không trúng ai. Sau đó Trương nhìn thấy K1 bị nhóm người của Đ1 đánh nên lấy cái ghế gỗ, khung bằng kim loại đánh từ trên xuống trúng V2, nhóm bạn của Đ1 là Châu Văn N1, Huỳnh Hữu N2 và Hồ Văn V1 cùng với Đ1 tham gia đánh lại K1 và T, cụ thể là Huỳnh N2 lấy cái ghế bằng gỗ có sẵn trong quán chọi về đám đông nhưng không trúng ai, V1 dùng nón bảo hiểm chọi về đám đông nhưng không trúng ai, Châu N1 lấy cái ly thủy tinh có sẵn trong quán chọi vào người K1. Cùng lúc đó, các đối tượng Âu Hữu D, Lý Văn K, Bùi Hữu N3, Nguyễn Thanh T4, Hà Minh P1 và Nguyễn Nhất H2 bỏ đi khỏi hiện trường, không tham gia đánh nhau nữa.

Kết quả trưng cầu giám định:

  • * Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 396/KLTTCT-PY ngày 12/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận:

    • - Các kết quả chính:

      • + Kết quả khám giám định:

        • • Sẹo phần mềm vùng mặt (3 vết).

        • • Chấn thương vùng bả vai trái. Hiện tại, để lại vết biến đổi sắc tố da.

      • + Kết quả cận lâm sàng: không thấy hình ảnh bất thường.

    • - Kết luận:

      • + Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khắc T1 tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

      • + Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở vùng mặt:

  • • Trán phải (mặt) là: 06% (Sáu phần trăm).

  • • Góc mũi là: 03% (Ba phần trăm).

  • • Cạnh bên phải mũi là: 03% (Ba phần trăm).

  • • Vùng bả vai trái là: 01% (Một phần trăm).

  • + Vật gây thương tích:

    • • Thương tích ở trán phải và bả vai trái do vật có cạnh gây nên.

    • • Thương tích ở vùng góc mũi và cạnh bên phải mũi do vật có góc, cạnh sắc gây nên.

  • * Tại bản kết luận giám định số: 260/KLTTCT-PVPYQG ngày 03 tháng 10 năm 2024 của V3, phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

    • - Các kết quả chính:

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng trán phải.

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng góc mũi.

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng cánh mũi phải.

      • • Vết thay đổi sắc tố da do vùng lưng trái.

      • • Dị vật dưới da vị trị sẹo vùng trán kích thước khoảng 3,1 mm.

    • - Kết luận:

      • + Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định:

      Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Khắc T1 tại thời điểm giám định là:

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng trán phải: 03% (Ba phần trăm).

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng góc mũi: 03% (Ba phần trăm).

      • • Sẹo kích thước nhỏ vùng cánh mũi phải: 03% (Ba phần trăm).

      • • Vết thay đổi sắc tố da do vùng lưng: 01% (Một phần trăm).

      • • Dị vật dưới da vị trí sẹo vùng trán kích thước khoảng 3,1mm: 03% (Ba phần trăm).

      Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khắc T1 tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

    • - Kết luận khác:

      • + Sẹo vùng trán phải và 02 sẹo vùng mũi của Nguyễn Khắc T1 do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây ra.

      • + Vết thay đổi do sắc tố da vùng vai trái của Nguyễn Khắc T1 do vật tày tác động trực tiếp gây ra.

    • * Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

Ông Mã Thái M1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra một số đồ vật như sau:

  • + 03 (ba) cái ghế bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng, bị hư hỏng.

  • + 02 (hai) cái ghế bằng kim loại và gỗ, có khung ghế bằng kim loại màu đen, yên ghế và gác lưng bằng gỗ màu cau khô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng.

  • + 01 (một) cái ly thủy tinh, trong suốt, có quai cầm, miệng ly có đường kính 8cm, chiều cao 12cm.

Đây đều là tài sản của ông Mã Thái M1 tự giao nộp cho Cơ quan điều tra, tuy nhiên tình trạng đồ vật đã bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, ông Mã Thái M1 không yêu cầu nhận lại tài sản trên vì bị can Nguyễn Trường V đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Mã Thái M1.

  • * Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Khắc T1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản thiệt hại khác tổng số tiền 53.000.000đ (Năm mươi ba triệu đồng), yêu cầu giải quyết tại tòa.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-AM ngày 06/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Trường Vĩ và Trương Văn Phước T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • - Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Nguyễn Trường V và Trương Văn Phước T phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị:

    • + Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường V và bị cáo Trương Văn P Trương mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

    • + Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo V đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

    • + Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 (ba) cái ghế bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 02 (hai) cái ghế bằng kim loại và gỗ, có khung ghế bằng kim loại màu đen, yên ghế và gác lưng bằng gỗ màu cau khô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 (một) cái ly thủy tinh, trong suốt, có quai cầm, miệng ly có đường kính 8cm, chiều cao 12cm.

  • - Bị cáo trình bày: Các bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận, đối đáp gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 11/5/2024 tại quán 9999 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, do có mâu thuẫn từ việc chị N là vợ của anh T1 đăng ảnh của V lên mạng xã hội, V cho rằng ảnh hưởng đến uy tín của bản thân nên V điện thoại cho Đ2 và được Đ2 kêu Vĩ đến quán 9999 để nói chuyện với anh T1. Tại đây, anh T1 có xin lỗi nhưng V không đồng ý nên anh T1 gọi video call cho V nói chuyện với chị N, chị N có xin lỗi nhưng V không đồng ý nên V và chị N cãi nhau qua điện thoại, sau đó V dùng ly thủy tinh đánh trúng vào vùng trán của anh T1, Trương Văn P Trương dùng ghế gỗ khung kim loại đánh trúng vào vai của anh T1, hậu quả làm cho anh T1 bị thương phải điều trị tại Bệnh viện.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 396/KLTTCT-PY ngày 12/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K và bản kết luận giám định số: 260/KLTTCT-PVPYQG ngày 03 tháng 10 năm 2024 của V3, phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh T1 là 12%.

[3] Về tội phạm:

[3.1] Về tội danh: Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được trong lúc đánh nhau có sử dụng ly thủy tinh, ghế gỗ khung kim loại nếu trúng vào người khác sẽ gây ra thương tích nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; công cụ các bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này các bị cáo cùng nhau phạm tội, cùng nhau thực hành và gây ra thương tích cho bị hại nên là đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn. Do các bị cáo cùng nhau dùng hung khí nguy hiểm đánh bị hại

nên các bị cáo phải cùng nhau chịu trách nhiệm về việc gây thương tích cho bị hại theo tỷ lệ thương tật mà kết luận giám định đã nêu. Do đó, hành vi của các bị cáo V và Trương đủ các yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về định khung hình phạt: Các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây tổn hại cho sức khỏe cho bị hại; hậu quả bị hại anh T1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 12%. Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a khoản 1 Điều này.

Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Nguyễn Trường V và Trương Văn Phước T phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3.3] Trong khi bị cáo V và Trương gây thương tích cho bị hại T1 còn có một số người khác đã đánh nhau gây mất an ninh trật tự. Tuy nhiên, những người bị thương tích không yêu cầu xử lý; hành vi gây mất an ninh trật tự diễn ra ngắn, chưa ảnh hưởng nghiêm trong đến trật tự công cộng. Do đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xử lý hình sự là phù hợp.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo V đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại (có cả phần của bị cáo T); bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo; ông bà của bị cáo V là người có công Cách mạng. Do đó, HĐXX xác định các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy các bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 06 năm tù, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Khi quyết định hình phạt thấy rằng các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thiệt hại sức khỏe của bị hại chỉ 12% nên chỉ cần xử phạt mức đầu khung hình phạt là phù hợp.

Thấy rằng các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo nên việc không buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. HĐXX thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo V đã bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản thiệt hại khác cho bị hại anh T1 với tổng số tiền 100.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Do đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự nên bị cáo V được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh tại biên lai thu số 0004309 ngày 18/10/2024.

[6] Về xử lý vật chứng: Công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí, các bị cáo V và T, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[8] Đối với các đối tượng Lê Sơn Đ1, Hồ Văn V1, Huỳnh Hữu N2, Châu Văn N1, Nguyễn Lê K1, Âu Hữu D đã có hành vi đánh nhau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Trưởng Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trường V và Trương Văn Phước T (Cu) phạm tội Cố ý gây thương tích.

    1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường V 02 (hai) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20-3-2025).

      Giao cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn Phước T (Cu) 02 (hai) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 20-3-2025).

      Giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) cái ghế bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 02 (hai) cái ghế bằng kim loại và gỗ, có khung ghế bằng kim loại màu đen, yên ghế và gác lưng bằng gỗ màu cau khô, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 (một) cái ly thủy tinh, trong suốt, có quai cầm, miệng ly có đường kính 8cm, chiều cao 12cm (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS-AM ngày 06-02-2025 của VKSND huyện An Minh).

    Bị cáo V được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh tại biên lai thu số 0004309 ngày 18/10/2024.

  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Trường V và Trương Văn P Trương mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20-3-2025). Bị hại vắng mặt nên quyền kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Tòa án tỉnh KG;
  • - Công an tỉnh KG (P. Hồ sơ);
  • - Cơ quan THAHS Công an Kiên Giang;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - UBND xã Vân Khánh Đông + Đông Hưng A, H. An Minh, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường V cùng đồng bọn phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger