Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 19-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Xuân Mai và ông Trần Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Hiếu - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ

sinh năm 1985 tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị M sinh năm 1959; có vợ là Trần Thị T sinh năm 1988 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-6-2024 đến ngày 8-8-2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh - có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Phạm Thị H – Vắng mặt
  2. Địa chỉ: Cửa hàng T3, thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

  3. Ông Nguyễn Thành T1 – Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Cửa hàng T4, thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

  5. Ông Thân Văn B – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Cửa hàng T5, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

  7. Bà Phạm Thị L – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  8. Địa chỉ: Cửa hàng T6, thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2013, Trần Văn Đ làm công nhân rang xay cà phê cho Công ty TNHH C1. Đến năm 2015, Công ty TNHH C1 sang nhượng lại địa điểm, cơ sở vật chất, máy móc sản xuất cho ông Đoàn Đức Đ1 (sinh năm 1983, trú tại: A T, tổ B, KP7, phường G, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) và ông Đ1 đăng ký hộ kinh doanh Đoàn Đức Đ1 với ngành nghề kinh doanh rang xay và mua bán cà phê bột. Sau khi chuyển nhượng, Đ tiếp tục làm công việc sản xuất cà phê bột cho hộ kinh doanh Đoàn Đức Đ1 một thời gian rồi nghỉ việc và đi làm thuê cho một số công ty tại thành phố V. Đến năm 2018 thì Đ chuyển đến sinh sống tại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Năm 2020, ông Đ1 nghỉ sản xuất cà phê nên Đ đã liên hệ và mua lại máy móc, thiết bị sản xuất cà phê của ông Đ1 với giá 30.000.000 đồng. Đồng thời, ông Đ1 cung cấp cho Đ các giấy tờ liên quan đến hoạt động sản xuất cà phê của Công ty C1 và H1 kinh doanh Đoàn Đức Đ1 và nói Đ muốn sản xuất, kinh doanh cà phê thì căn cứ vào trình tự, thủ tục của các hồ sơ giấy tờ trên để đăng ký với các cơ quan chức năng địa phương. Tuy nhiên, sau đó Đ không thực hiện các thủ tục đăng ký sản xuất, kinh doanh cà phê với các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông mà tự sản xuất cà phê. Lúc này, Đ nảy sinh ý định sản xuất cà phê giả để bán ra thị trường, nhưng không đăng ký sản xuất, kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quá trình thực hiện, Đồng đặt in bao bì các nhãn hiệu cà phê Hương Chồn C, Hương Chồn C, Hương Chồn C, Cafe Trộn C (loại 0,5kg/bao), với thành phần ghi trên bao bì là cà phê các loại (Arabica, R, C), chỉ tiêu chất lượng gồm: độ ẩm <5%, caffeine > 1%. Đồng thời, giả mạo thông tin của Công ty TNHH C1 lên bảo bì cà phê, gồm: “GPKD: 4902001939” (là Số Giấy phép kinh doanh của Công ty C1), “Số CBCL: 632/2008/YTBV-CNTC” (là Số Chúng nhận tiêu chuẩn sản phâm do Sở Y tế tỉnh B cấp ngày 29-7-2008 để chứng nhận cho Công ty C1 được phép lưu hành sản phẩm cà phê bột), thông tin “ĐC: 268/2 T, P.5, Tp .” (là địa chỉ cơ sở sản xuất cà phê bột của Công ty C1 đã tự công bố với Sở Y tế tỉnh B).

Từ năm 2024 đến cuối tháng 5-2024, do giá cà phê tăng cao và để thu được lợi nhuận cao, khi sản xuất các loại cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 1, Hương Chồn C, thì Đ không sử dụng nguyên liệu cà phê, chỉ sử dụng nguyên liệu bột đậu nành đã rang, phối trộn các chất phụ gia (đường, muối, rượu trắng, dầu thực vật, hương liệu bơ sữa, hương Cà phê dùng trong thực phẩm). Đối với các loại cà phê bột nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 3, C trộn C thì Đ sử dụng nguyên liệu theo tỷ lệ 50% cà phê - 50% đậu nành bột và các chất phụ gia kèm theo, rồi phối trộn theo bí quyết riêng, đóng thành phẩm và bán ra thị trường. Đồng thuê nhà của ông Trần Văn L1 (địa chỉ tại thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) để lắp đặt máy móc, sản xuất cà phê bột.

Ngày 07-6-2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã thực hiện kiểm tra việc chấp hành pháp luật về An toàn thực phẩm địa điểm sản xuất, chế biến cà phê bột tại thôn G, xã N, huyện Đ của Trần Văn Đ. Quá trình kiểm tra đã phát hiện, tạm giữ 329 gói (loại 0,5kg/gói) cà phê bột các loại nhãn hiệu Hương chồn C, H2 chồn C, H2 chồn C, Café trộn C. Mở rộng điều tra, trong các ngày 07, 08-6-2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tiếp tục phát hiện 63 gói cà phê, mà Đ đã bán cho các cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, gồm: Cửa hàng T3 của bà Phạm Thị H gồm 10 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 2, 02 gói cà phê nhãn hiệu Cafe Trộn Cao Nguyên; Cửa hàng T4 của ông Nguyễn Thành T1 gồm 04 gói cà phê nhãn hiệu Cafe Trộn Cao Nguyên; Cửa hàng T5 của ông Thân Văn B gồm 02 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn C, 08 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 2, 06 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 3 và 08 gói cà phê nhãn hiệu Cafe Trộn Cao Nguyên; Cửa hàng tạp hóa Liên Núi của bà Phạm Thị L gồm 12 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chôn Cao Nguyên 1, 11 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 2.

Như vậy, Trần Văn Đ đã sản xuất tổng 392 gói cà phê bột (gồm 152 gói cà phê nhãn hiệu Hương C2; 101 gói cà phê nhãn hiệu Hương C3; 48 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 3; 91 gỏi nhãn hiệu Cafe Trộn C). Trong đó, có 329 gói cà phê bột Đồng chưa bán ra thị trường và 63 gói cà phê bột Đ đã bán cho 04 cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

Thông báo kết quả giám định số 00077-1/N3.24/TD ngày 14-6-2024, số 00077-2/N3.24/TD ngày 21-6-2024 của Trung tâm K1 chất lượng 3 tại TP . giám định xác định hàm lượng Cafein có trong 392 gói cà phê bột nhãn hiệu Hương chồn C, H2 chồn C, H2 chồn C, Cafe trộn Cao Nguyên do Trần Văn Đ sản xuất, xác định:

  • Đối với các loại cà phê bột nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 1, C3 thì không phát hiện hàm lượng Cafein chứa trong sản phẩm.
  • Đối với các loại cà phê bột nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 3, Cafe trộn C có hàm lượng Cafein từ 0,7% - 0,9% chứa trong sản phầm.

Kết luận định giá tài sản số 70 ngày 17-7-2024 của Hội đồng định giá thường xuyên các tài sản trong tố tụng hình sự của UBND tỉnh Đ kết luận: 392 gói cà phê nêu trên có giá trị tương đương cà phê bột thật là 18.928.112 đồng.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSĐN-P1 ngày 08-1-2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các tài liệu, đồ vật thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

01 cân kim loại màu xanh, hiệu Nhơn Hòa, loại 01 kg; 01 máy ép bao bì dán nhãn hiệu Cường P; 01 máy in ngày sản xuất nhãn hiệu Operation Instruction 2.8 kg, made in Tai Wan; 01 xẻng gắn cán gỗ tre; 02 máy nghiền nông sản miệng dạng chóp nón; 01 khay kim loại; 04 chậu nhựa màu đỏ; 01 hệ thống máy rang, chế biến nông sản gắn động cơ điện, 01 quạt kim loại.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 05 phần phía trên can nhựa màu trắng; 145 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 1; 94 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 2; 41 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 3; 84 gói cà phê nhãn hiệu Café trộn C;
  • 1.440 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu Café trộn Cao Nguyên; 240 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 1; 2.880 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu H2 chôn Cao Nguyên 2.
  • 03 gói chất đóng gói bao bì màu trắng bạc dán nhãn in thông tin M1 1.00 kg.
  • 02 can nhựa màu xanh dán nhãn in thông tin Brazil C, 4.7L (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 04 can nhựa màu trắng dán nhãn in thông tin Phụ gia thực phẩm LGC (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 01 chai nhựa dán nhãn in thông tin Aquafina đậy nắp màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu trắng (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 01 chai nhựa đậy nắp màu đỏ, bên trong chứa chất lỏng màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 04 thùng nhựa kích thước đường kính miệng 31cm, đường kính đáy 25.5 cm, chiều cao 35 cm, dán nhãn in thông tin Blue Diamnd, Butter oil substitute, chất thay thế dầu bơ (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 03 thùng nhựa màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu nâu đen có dán nhãn có dãy số “16030540” (chưa xác định khôi lượng bên trong).
  • 01 bao tải màu trắng khâu kín, in thông tin Công ty cổ phần M2, khối lượng tịch 50 kg, 333 SUCO (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 06 bao tải màu xanh buộc kín, bên trong lồng túi nilon (chưa xác định khối lượng nguyên liệu được đựng trong các bao), gồm: 03 bao chứa chất bột màu nâu; 01 bao chứa hạt (dạng hạt cà phê) bám dính chất ẩm dính, bóng, màu nâu đen; 01 bao chứa hạt (dạng hạt cà phê) bám dính chất bóng, màu nâu sáng; 01 bao hạt (dạng hạt cà phê) màu nâu, không bóng sáng.
  • 04 vỏ bao tải màu trắng, họa tiết xanh, đỏ, in thông tin APLSOY, đậu nành hạt, khối lượng tịch 50 kg, nơi đóng gói T, Đồng Nai.
  • 01 (một) thùng nhựa màu xanh da trời cao 72cm, đường kinh đay 46cm, đường kinh miệng 62cm, đậy kín nắp, bên trong chứa chât bột màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).
  • 01 thùng nhựa màu xanh lá cây cao 72 cm, đường kính đáy 46 cm, đường kính miệng 62cm, đậy kín nắp, bên trong chứa chất bột màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 17-01-2025).

Truy thu số tiền 2.350.000 đồng (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Trần Văn Đ để sung quỹ Nhà nước (Bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002224 ngày 13/01/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đắk Nông).

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo Trần Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đầu năm 2024 đến ngày 07-6-2024, Trần Văn Đ đã thực hiện hành vi sản xuất 392 gói cà phê bột, sau đó đóng gói thành phẩm vào 253 gói cà phê nhưng không chứa Cafein (gồm 152 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 1 và 101 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn. Cao Nguyên 2); 139 gói cà phê có hàm lượng Cafein từ 0,7% đến 0,9% (gồm 48 gói cà phê nhãn hiệu Hương Chồn Cao Nguyên 3 và 91 gói nhãn hiệu Cafe Trộn Cao Nguyên). Trên bao bì các nhãn hiệu này, Đ đã in giả mạo thông tin của Công TY TNHH C1. Trong đó, 329 gói cà phê bột Đồng chưa bán ra thị trường và 63 gói cà phê bột Đ đã bán cho 04 cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, thu lợi bất chính số tiền 2.350.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm” theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm” theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại Điều 193 của Bộ Luật Hình sự quy định:

“1. Người nào sản xuất, mua bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm thì bị phạt tù từ 02 đến 05 năm.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế và quyền lợi của người tiêu dùng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được hành vi sản xuất cà phê bột của mình không được cơ quan nhà nước cấp giấy phép kinh doanh; lấy thông tin của công ty khác để in lên sản phẩm bao bì; sản xuất cà phê bột nhưng thành phần trong sản phẩm không có thành phần caphein hoặc có thành phần caphein nhưng tỉ lệ rất thấp tuy nhiên vì lợi nhuận, bị cáo vẫn bất chấp quy định pháp luật, lén lút thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh làm giả cà phê bột. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hảnh vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ giảm trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp toàn bộ số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo ít (2.350.000 đồng). Đối chiếu với các quy định hướng dẫn về án treo, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú trực tiếp giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 193 của BLHS, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

[6]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên Hội Đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận. Đối với những vật chứng và các tài liệu, đồ vật thu giữ có giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; đối với những vật chứng và các tài liệu, đồ vật thu giữ không có giá trị sử dụng cần tịch tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đồng phạm T2 “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 193; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Đ 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/3/2025.

    Giao bị cáo Trần Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và gia đình bị cáo phối hợp, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 193 BLHS, phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Đ 20.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng và các tài liệu, đồ vật thu giữ: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  5. Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm:

    01 cân kim loại màu xanh, hiệu Nhơn Hòa, loại 01 kg; 01 máy ép bao bì dán nhãn hiệu Cường P; 01 máy in ngày sản xuất nhãn hiệu Operation Instruction 2.8 kg, made in Tai Wan; 01 xẻng gắn cán gỗ tre; 02 máy nghiền nông sản miệng dạng chóp nón; 01 khay kim loại; 04 chậu nhựa màu đỏ; 01 hệ thống máy rang, chế biến nông sản gắn động cơ điện, 01 quạt kim loại.

    Tịch thu tiêu hủy gồm:

    • 05 phần phía trên can nhựa màu trắng; 145 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 1; 94 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 2; 41 gói cà phê nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 3; 84 gói cà phê nhãn hiệu Café trộn C;
    • 1.440 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu Café trộn Cao Nguyên; 240 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu Hương chồn Cao Nguyên 1; 2.880 vỏ gói cà phê ghi nhãn hiệu H2 chôn Cao Nguyên 2.
    • 03 gói chất đóng gói bao bì màu trắng bạc dán nhãn in thông tin M1 1.00 kg.
    • 02 can nhựa màu xanh dán nhãn in thông tin Brazil C, 4.7L (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 04 can nhựa màu trắng dán nhãn in thông tin Phụ gia thực phẩm LGC (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 01 chai nhựa dán nhãn in thông tin Aquafina đậy nắp màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu trắng (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 01 chai nhựa đậy nắp màu đỏ, bên trong chứa chất lỏng màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 04 thùng nhựa kích thước đường kính miệng 31cm, đường kính đáy 25.5 cm, chiều cao 35 cm, dán nhãn in thông tin Blue Diamnd, Butter oil substitute, chất thay thế dầu bơ (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 03 thùng nhựa màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu nâu đen có dán nhãn có dãy số “16030540” (chưa xác định khôi lượng bên trong).
    • 01 bao tải màu trắng khâu kín, in thông tin Công ty cổ phần M2, khối lượng tịch 50 kg, 333 SUCO (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 06 bao tải màu xanh buộc kín, bên trong lồng túi nilon (chưa xác định khối lượng nguyên liệu được đựng trong các bao), gồm: 03 bao chứa chất bột màu nâu; 01 bao chứa hạt (dạng hạt cà phê) bám dính chất ẩm dính, bóng, màu nâu đen; 01 bao chứa hạt (dạng hạt cà phê) bám dính chất bóng, màu nâu sáng; 01 bao hạt (dạng hạt cà phê) màu nâu, không bóng sáng.
    • 04 vỏ bao tải màu trắng, họa tiết xanh, đỏ, in thông tin APLSOY, đậu nành hạt, khối lượng tịch 50 kg, nơi đóng gói T, Đồng Nai.
    • 01 (một) thùng nhựa màu xanh da trời cao 72cm, đường kinh đay 46cm, đường kinh miệng 62cm, đậy kín nắp, bên trong chứa chât bột màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).
    • 01 thùng nhựa màu xanh lá cây cao 72 cm, đường kính đáy 46 cm, đường kính miệng 62cm, đậy kín nắp, bên trong chứa chất bột màu nâu (chưa xác định khối lượng bên trong).

    (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 17-01-2025; riêng 01 hệ thống máy rang, chế biến nông sản gắn động cơ điện; 01 quạt kim loại người thân của bị cáo là bà Trần Thị T đang trông coi, bảo quản theo biên bản tạm giữ, bàn giao tài sản, đồ vật để quản lý ngày 07/06/2024 của đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm).

    Truy thu số tiền 2.350.000 đồng (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Trần Văn Đ để sung quỹ Nhà nước (Bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002224 ngày 13/01/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đắk Nông).

  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Trần Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông:
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger