|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Chính
- Ông Hồ Quốc Văn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vỉ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thị T, sinh năm 1984 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá N và bà Lê Thị V; chồng Lê Văn B và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Bà Trần Mỹ H, sinh năm 1974, vắng mặt
- Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1984, có mặt
- Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1984, có mặt
- Ông Nguyễn Nhựt P, sinh năm 2004, có đơn xin vắng mặt
- Bà Phan Lệ T1, sinh năm 1981, có mặt
- Bà Đoàn Hồng T2, sinh năm 1982, vắng mặt
- Bà Đặng Ánh N1, sinh năm 1989, có mặt
- Bà Diệp Thị Á, sinh năm 1989, vắng mặt
- Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1965, có mặt
- Bà Quách Thùy D, sinh năm 1988, vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1982, có mặt
- Bà Kim Thị T3, sinh năm 1983, có mặt
- Bà Quách Thúy K, sinh năm 1983, có đơn xin vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1960, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Hứa Ngọc Q, sinh năm 1987, có mặt
- Bà Hồ Hồng D1, sinh năm 1989, vắng mặt
- Bà Bùi Thị T4, sinh năm 1984, vắng mặt
- Bà Lê Thu E, sinh năm 1988, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Huỳnh Thị V2, sinh năm 1972, có đơn xin vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị N3, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1979, có mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Thị N4, sinh năm 1979, có mặt
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Hồng Thị T5, sinh năm 1989, vắng mặt
- Bà Huỳnh Tuyết M, sinh năm 1995, có mặt
- Bà Huỳnh Ngọc H3, sinh năm 1994, có mặt
- Bà Huỳnh Hồng G, sinh năm 1988, có mặt
- Bà Lư Mỹ L1, sinh năm 1987, có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trần Thị T6, sinh năm 1980, có mặt tại phiên xét xử chiều ngày 18/3/2025
- Ông Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1958, có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Thị Cẩm L3, sinh năm 1977, có mặt
Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Phan Thị D2, sinh năm 1989, có mặt tại phiên xét xử chiều ngày 18/3/2025
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Ngô Thanh P1, sinh năm 1988, có mặt
Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1966, vắng mặt
- Bà Trần Thị P2, sinh năm 1970, có mặt tại phiên xét xử sáng ngày 18/3/2025
- Bà Nguyễn Thị N5, sinh năm 1967, vắng mặt
- Ông Lư Út E1, sinh năm 1987, có mặt tại phiên xét xử sáng ngày 18/3/2025
- Bà Nguyễn Thị D3, sinh năm 1979, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1985, vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1983, có đơn xin vắng mặt
- Bà Trần Thị P2, sinh năm 1971, có đơn xin vắng mặt
- Bà Từ Thị P3, sinh năm 1982, có đơn xin vắng mặt
- Bà Võ Thị L4, sinh năm 1957, vắng mặt
- Bà Lê Thị Bé T7, sinh năm 1991, vắng mặt
- Bà Bùi Thị H4, sinh năm 1973, vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1969, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Âu Thị N6, sinh năm 1969, vắng mặt
- Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1961, có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Phạm Văn S1, vắng mặt
- Bà Từ Thị L5, sinh năm 1973, có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Huỳnh Thanh H5, sinh năm 1978, có mặt tại phiên xét xử chiều ngày 18/3/2025
- Bà Dương Thúy V3, sinh năm 2000, có đơn xin vắng mặt
- Bà Dương Mộng K1, sinh năm 1992, có mặt
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Huỳnh Thị P4, sinh năm 1979, vắng mặt
- Ông Huỳnh Văn P5, sinh năm 1998, vắng mặt
- Bà Đoàn Thị M2, sinh năm 1991, vắng mặt
- Bà Lê Thị Đ2, sinh năm 1962, vắng mặt
- Bà Lê Mỹ H6, sinh năm 1973, có mặt
- Bà Phan Kiều D4, sinh năm 1983, vắng mặt
- Ông Huỳnh Chí Đ3, sinh năm 1990, có mặt
- Bà Trương Thị T8, sinh năm 1972, vắng mặt
- Bà Lê Thị P6, sinh năm 1985, vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Đ4, sinh năm 1964, vắng mặt
- Ông Lê Văn B, sinh năm 1980, có mặt
- Bà Lâm Thùy D5, sinh năm 1976, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1961, có mặt
- Ông Nguyễn Phương B2, sinh năm 1986, vắng mặt
- Bà Trần Xuân Đ5, sinh năm 1971, vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1988, có mặt
- Bà Phan Ngọc Ý, sinh năm 1993, có mặt
- Bà Phan Thị Ngọc C1, sinh năm 1989, có mặt
- Bà Hồ Thị T10, sinh năm 1986, vắng mặt
- Bà Ngô Kim L6, sinh năm 1978, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Trần Nhựt N7, sinh năm 1980, có mặt tại phiên xét xử chiều ngày 18/3/2025
- Bà Trương Kim N8, sinh năm 1977, có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Như H7, sinh năm 2004, vắng mặt
- Bà Bùi Mộng X1, sinh năm 1989, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Võ Mỹ T11, sinh năm 1979, có mặt tại phiên xét xử chiều ngày 18/3/2025
Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Giang Văn Q1, sinh năm 1984, có mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị B3, sinh năm 1991, vắng mặt
Địa chỉ: Khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 01 năm 2022 âm lịch (tháng 02 năm 2022 dương lịch) đến tháng 3/2023 âm lịch (tháng 5 năm 2023 dương lịch), bị cáo mở nhiều dây hụi, loại hụi 5.000.000 đồng/tháng, 3.000.000 đồng/tháng, 2.000.000 đồng/tháng, 1.000.000 đồng/tháng, 200.000 đồng/tuần cho hụi viên tham gia để hưởng tiền cò (hoa hồng trên mỗi kỳ khui hụi là 50%), bị cáo không đăng ký với Ủy ban nhân dân xã T. Bị cáo tự mình quyết định mở hụi, tổ chức khui hụi, quyết định ai hốt, giao tiền hụi cho ai. Quá trình làm chủ hụi bị cáo có lập danh sách hụi giao cho hụi viên và quy định thể lệ chơi hụi, thời gian bỏ thăm (khui hụi), gom tiền và giao tiền hụi rõ ràng. Theo đó, hụi viên bỏ thăm cao hơn sẽ được hốt hụi. Bị cáo không mở sổ theo dõi việc bỏ thăm, tiền khui hụi từng kỳ, việc hốt hụi của từng dây và hụi viên nào đã hốt hay chưa của từng dây, khi giao tiền hụi cho hụi viên bị cáo cũng không yêu cầu hụi viên làm biên nhận. Bị cáo có mở sổ theo dõi ghi chép những dây hụi, loại hụi, số chân hụi tham gia và thời gian mở hụi. Đến khoảng tháng 02/2023 âm lịch (khoảng tháng 3/2023 dương lịch), bị cáo bị thâm hụt tiền do chi sài cá nhân và do nhiều hụi viên hốt hụi nhưng không đóng lại hụi chết nên bị cáo nảy sinh ý định tự ý hốt hụi của hụi viên. Bị cáo lợi dụng những hụi viên không đi bỏ thăm rồi tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm để hốt hụi, lấy tiền phục vụ cho mục đích cá nhân và bù vào khoản thâm hụt do hụi viện không đóng sau khi đã hốt hụi. Đến tháng 7/2023 âm lịch (khoảng tháng 8/2023 dương lịch), bị cáo tuyên bố đình hụi thì còn lại 25 dây hụi (13 dây hụi tháng, 12 dây hụi tuần) chưa thanh toán dứt điểm, liên quan đến 129 hụi viên. Trong đó, có 12 dây hụi liên quan đến 14 hụi viên bị cáo tự ý lấy tên hụi viên vắng mặt bỏ thăm hốt hụi 31 lần chiếm đoạt với số tiền 340.800.000 đồng. Cụ thể như sau:
Dây thứ 1: Mở ngày 09/02/2022 (nhằm ngày 09/01/2022 âm lịch), dây A, loại hụi 3.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 09 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân. Bị cáo thực tế tham gia chơi 05 chân, đã hốt 05 chân. Dây hụi này đã khui được 19 chân, hụi viên thực hốt 15 chân. Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên vắng mặt bỏ thăm hốt 04 chân, chiếm đoạt số tiền 171.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 15 (tháng 02/2023 âm lịch-tháng 02 sau): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Loan” (Huỳnh Thị L) - chân hụi này của bị cáo đăng ký chơi nhưng đã bán cho bà L, bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 43.500.000 đồng.
- Kỳ 16 (tháng 3/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Kháng” (Hồng Thị T5), bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 43.500.000 đồng.
- Kỳ 17 (tháng 4/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Thiếm 3 Trong (4 Thoa)” (Trần Mỹ H), bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 43.500.000 đồng.
- Kỳ 18 (tháng 5/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Út Vân” (Huỳnh Thị V2), bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 40.500.000 đồng.
Trong dây hụi này, có 11 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Trần Mỹ H: 01 chân đóng 27.450.000 đồng. Và có mua 01 chân số tiền 21.670.000 đồng, sau đó tiếp tục đóng thêm 04 kỳ với số tiền 6.000.000 đồng, tổng 27.670.000 đồng.
- Hồng Thị T5: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị H1: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị V2: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị L: 01 chân đóng 27.450.000 đồng. Và có mua 01 chân với số tiền 44.400.000 đồng, tuy nhiên bà L đã nhận lại 28.350.000 đồng, còn lại 16.050.000 đồng.
- Lê Thị Cẩm L3: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Tuyết M: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Ngọc H3: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Ngô Thanh P1: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị S: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Nguyễn Nhựt P: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
Dây thứ 2: Mở ngày 09/02/2022 (nhằm ngày 09/01/2022 âm lịch), dây B, loại hụi 3.000.000 đồng/tháng, khui vào ngày 09 âm lịch hàng tháng, gồm 28 chân. Bị cáo thực tế tham gia chơi 04 chân, đã hốt 04 chân. Dây hụi này đã khui được 19 kỳ (19 chân), hụi viên thực hốt 17 chân. Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên vắng mặt bỏ thăm hốt 02 chân, chiếm đoạt số tiền 99.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 17 (tháng 4/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Nhỏ” (Lê Thị N4), bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 49.500.000 đồng.
- Kỳ 18 (tháng 5/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Loan” (Huỳnh Thị L) - chân hụi này của bị cáo đăng ký chơi nhưng đã bán cho bà L, bỏ thăm 1.500.000 đồng để hốt, chiếm đoạt 49.500.000 đồng.
Trong dây hụi này, có 10 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Hứa Ngọc Q: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Trần Thị T6: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Phan Thị D2: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Phan Lệ T1: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Hồ Hồng D1: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Hồng G: 01 chân đóng 25.950.000 đồng.
- Lê Thị Cẩm L3: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị L: 01 chân đóng 27.450.000 đồng. Và có mua 01 chân với số tiền 44.400.000 đồng, tuy nhiên bà L đã nhận lại 28.350.000 đồng, còn lại 16.050.000 đồng.
- Ngô Thanh P1: 01 chân đóng 27.450.000 đồng.
- Lê Thị N4: 01 chân đóng 25.950.000 đồng.
Dây thứ 3: Mở ngày 16/3/2023 (nhằm ngày 25/02/2023 âm lịch - tháng 02 trước), dây 1, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào thứ năm hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 11 chân, đã hốt 11 chân. Dây hụi này đã khui được 22 kỳ (22 chân), hụi viên thực hốt 21 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân, chiếm đoạt số tiền 2.200.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 20 (tháng 6/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị N4” (Lư Mỹ L1), bỏ thăm 100.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.200.000 đồng.
Có 02 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Phan Thị D2: 01 chân đóng 2.440.000 đồng.
- Lư Mỹ L1: 03 chân đóng 6.720.000 đồng.
Dây thứ 4: Mở ngày 16/3/2023 (nhằm ngày 25/02/2023 âm lịch - tháng 02 trước), dây 2, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào thứ năm hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 08 chân, đã hốt 08 chân. Dây hụi này đã khui được 22 kỳ (22 chân), hụi viên thực hốt 21 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 20 (tháng 6/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Nhỏ” (Lư Mỹ L1), bỏ thăm 100.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng.
Có 02 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Phan Thị D2: 01 chân đóng 2.440.000 đồng.
- Lư Mỹ L1: 03 chân đóng 6.720.000 đồng.
Dây thứ 5: Mở ngày 19/3/2023 (nhằm ngày 28/02/2023 âm lịch - tháng 02 trước), dây 1, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 01 chân, đã hốt. Dây hụi này đã khui được 22 kỳ (22 chân), hụi viên thực hốt 21 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân, chiếm đoạt số tiền 4.200.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 20 (tháng 6/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị N4” (Lư Mỹ L1), bỏ thăm 100.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 4.200.000 đồng.
Có 02 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Lư Mỹ L1: 03 chân đóng 6.570.000 đồng.
- Nguyễn Thị N3: 01 chân đóng 2.190.000 đồng.
Dây thứ 6: Mở ngày 19/3/2023 (nhằm ngày 28/02/2023 âm lịch - tháng 02 trước), dây 2, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 08 chân, đã hốt 08 chân. Dây hụi này đã khui được 22 kỳ (22 chân), hụi viên thực hốt 21 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 20 (tháng 6/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị N4” (Lư Mỹ L1), bỏ thăm 100.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng.
Có 02 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Lư Mỹ L1: 03 chân đóng 6.570.000 đồng.
- Nguyễn Thị N3: 01 chân đóng 2.190.000 đồng.
Dây thứ 7: Mở ngày 02/4/2023 (nhằm ngày 12/02/2023 âm lịch - tháng 02 sau), dây 1, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 05 chân, đã hốt 05 chân. Dây hụi này đã khui được 20 kỳ (20 chân), hụi viên thực hốt 13 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 07 chân, chiếm đoạt số tiền 17.680.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 13 (tháng 05/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Khắc Thuần” (Diệp Thị Á), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.440.000 đồng.
- Kỳ 14 (tháng 05/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Cô 3 Nga” (Nguyễn Thị N2), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.440.000 đồng.
- Kỳ 16 (tháng 05/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Mợ 9 Tây” (Đặng Ánh N1), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.560.000 đồng.
- Kỳ 17 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Nguyệt” (Đặng Ánh N1), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.560.000 đồng.
- Kỳ 18 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “2 C2” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.560.000 đồng.
- Kỳ 19 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị S2” (Kim Thị T3), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.560.000 đồng.
- Kỳ 20 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Thu” (Bùi Thị T4), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.560.000 đồng.
Có 09 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Đoàn Hồng T2: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Đặng Ánh N1: 02 chân đóng 3.600.000 đồng.
- Diệp Thị Á: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Hồng Thị T5: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Đặng Thị H2: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Quách Thùy D: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Nguyễn Thị N2: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Kim Thị T3: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Bùi Thị T4: 03 chân đóng 5.400.000 đồng.
Dây thứ 8: Mở ngày 02/4/2023 (nhằm ngày 12/02/2023 âm lịch - tháng 02 sau), dây 2, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, Bị cáo thực tế tham gia chơi 06 chân, đã hốt 06 chân. Dây hụi này đã khui được 20 kỳ (20 chân), hụi viên thực hốt 16 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 04 chân, chiếm đoạt số tiền 10.400.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 13 (tháng 05/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Khắc Thuần” (Diệp Thị Á), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.240.000 đồng.
- Kỳ 18 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “2 C2” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.720.000 đồng.
- Kỳ 19 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị S2” (Kim Thị T3), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.720.000 đồng.
- Kỳ 20 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chế Thu” (Bùi Thị T4), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.720.000 đồng.
Có 07 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Đặng Ánh N1: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Diệp Thị Á: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Hồng Thị T5: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Đặng Thị H2: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Quách Thùy D: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Kim Thị T3: 01 chân đóng 1.800.000 đồng.
- Bùi Thị T4: 03 chân đóng 5.400.000 đồng.
Dây thứ 9: Mở ngày 23/4/2023 (nhằm ngày 04/3/2023 âm lịch), dây 1, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 05 chân, đã hốt 05 chân. Dây hụi này đã khui được 17 kỳ (17 chân), hụi viên thực hốt 16 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 01 chân, chiếm đoạt số tiền 2.920.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 17 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị T12” (Quách Thúy K), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.920.000 đồng.
Có 04 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Lê Thị Mỹ X: 04 chân đóng 7.040.000 đồng.
- Lê Thu E: 01 chân đóng 1.760.000 đồng.
- Nguyễn Thanh L2: 01 chân đóng 1.760.000 đồng.
- Quách Thúy K: 03 chân đóng 5.280.000 đồng.
Dây thứ 10: Mở ngày 23/4/2023 (nhằm ngày 04/3/2023 âm lịch), dây 2, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào chủ nhật hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 05 chân, đã hốt 05 chân. Dây hụi này đã khui được 17 kỳ (17 chân), hụi viên thực hốt 15 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 02 chân, chiếm đoạt số tiền 5.600.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 16 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị T12” (Quách Thúy K), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng.
- Kỳ 17 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị T12” (Quách Thúy K), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.800.000 đồng.
Có 04 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Lê Thị Mỹ X: 05 chân đóng 8.800.000 đồng.
- Lê Thu E: 01 chân đóng 1.760.000 đồng.
- Quách Thúy K: 03 chân đóng 5.280.000 đồng.
- Nguyễn Thị N2: 01 chân đóng 1.760.000 đồng.
Dây thứ 11: Mở ngày 27/4/2023 (nhằm ngày 08/3/2023 âm lịch), dây 1, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào thứ năm hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo không tham gia chơi chân nào trong dây hụi này. Dây hụi này đã khui được 17 kỳ (17 chân), hụi viên thực hốt 13 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 04 chân, chiếm đoạt số tiền 14.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 10 (tháng 05/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “T13” (Diệp Thị Á), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 3.080.000 đồng.
- Kỳ 15 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “2 C2” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 3.560.000 đồng.
- Kỳ 16 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “2 C2” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 3.560.000 đồng.
- Kỳ 17 (tháng 07/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Chị T12” (Quách Thúy K), bỏ thăm 100.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 3.800.000 đồng.
Có 05 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Đặng Ánh N1: 01 chân đóng 1.690.000 đồng.
- Quách Thùy D: 02 chân đóng 3.380.000 đồng.
- Quách Thúy K: 03 chân đóng 5.070.000 đồng.
- Diệp Thị Á: 01 chân đóng 1.690.000 đồng.
- Lư Mỹ L1: 05 chân đóng 8.450.000 đồng.
Dây thứ 12: Mở ngày 27/4/2023 (nhằm ngày 08/3/2023 âm lịch), dây 2, loại hụi 200.000 đồng/tuần, khui vào thứ năm hàng tuần, gồm 25 chân, bị cáo thực tế tham gia chơi 04 chân, đã hốt 04 chân. Dây hụi này đã khui được 17 kỳ (17 chân), hụi viên thực hốt 14 chân, bị cáo tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân, chiếm đoạt số tiền 8.200.000 đồng, cụ thể như sau:
- Kỳ 07 (tháng 04/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “3 Lanh” (Nguyễn Thị V1), bỏ thăm 80.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.680.000 đồng.
- Kỳ 15 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Cô 2 Thiết” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.760.000 đồng.
- Kỳ 16 (tháng 06/2023 âm lịch): Bị cáo tự ý lấy tên hụi viên “Cô 2 Thiết” (Quách Thùy D), bỏ thăm 120.000 đồng để hốt, chiếm đoạt số tiền 2.760.000 đồng.
Có 04 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:
- Quách Thùy D: 02 chân đóng 3.380.000 đồng.
- Quách Thúy K: 03 chân đóng 5.070.000 đồng.
- Lư Mỹ L1: 05 chân đóng 8.450.000 đồng.
- Nguyễn Thị V1: 01 chân đóng 1.690.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo tự ý lấy tên hụi viên để hốt hụi chiếm đoạt tiền của hụi viên là 340.800.000 đồng.
Tình tiết tăng nặng: Từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, bị cáo có hành vi 31 lần tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm hốt hụi để chiếm đoạt tiền của hụi viên (mỗi lần đều đủ lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Sau khi đình hụi bị cáo đã khắc phục hậu quả cho các hụi viên: Trần Mỹ H số tiền 6.000.000 đồng, Huỳnh Thị V2 1.000.000 đồng, Hứa Ngọc Q 16.000.000 đồng, Lê Thị N4 2.000.000 đồng, Lư M3 Lil 82.400.000 đồng, Quách Thúy K 12.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 tập học sinh nhãn hiệu Tân Tiến, trong đó có ghi các danh sách hụi do bị cáo giao nộp; 47 danh sách hụi do bị cáo và các hụi viên cung cấp. Hiện 47 danh sách hụi này được Cơ quan điều tra đã đánh bút lục đưa vào hồ sơ vụ án, 02 tập học sinh nhãn hiệu Tân Tiến hiện Cơ quan điều tra gửi kèm theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Quá trình điều tra, có 18 hụi viên (là bị hại) yêu cầu bị cáo trả lại tiền hụi đã đóng nhưng chưa được hốt. Trong đó, Cơ quan điều tra đã cho các hụi viên và bị cáo đối chiếu nợ với nhau và thống nhất bị cáo còn nợ 16 hụi viên số tiền cụ thể như sau:
- Trần Mỹ H 96.000.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Huỳnh Thị H1 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị V2 30.000.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Lê Thị Cẩm L3 54.900.000 đồng.
- Huỳnh Tuyết M 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Ngọc H3 11.450.000 đồng.
- Ngô Thanh P1 75.000.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Huỳnh Thị S 33.910.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Nguyễn Nhựt P 27.450.000 đồng.
- Hứa Ngọc Q 54.000.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Trần Thị T6 28.500.000 đồng.
- Lê Thị N4 60.000.000 đồng (bao gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Diệp Thị Á 3.000.000 đồng (do đã có thỏa thuận hụi viên Bùi Thị H4 - nợ hụi chết bị cáo trả cho bà Á thêm 22.000.000 đồng).
- Quách Thùy D 5.800.000 đồng.
- Nguyễn Thanh L2 27.860.000 đồng (gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Quách Thúy K 26.000.000 đồng (gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
Và có 02 hụi viên (là bị hại) yêu cầu bị cáo trả lại tiền hụi đã đóng nhưng chưa được hốt có tính lãi, nhưng bị cáo yêu cầu xem xét được bồi thường theo quy định pháp luật, cụ thể như sau:
- Huỳnh Thị L 229.670.000 đồng (gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
- Huỳnh Hồng G 49.950.000 đồng (gồm tiền ở những dây hụi không bị bị cáo chiếm đoạt).
Có 14 hụi viên (là bị hại) đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì liên quan đến hình sự, dân sự đối với bị cáo gồm: Hồng Thị T5, Phan Thị D2, Phan Lệ T1, Hồ Hồng D1, Lư Mỹ L1, Đoàn Hồng T2, Đặng Ánh N1, Đặng Thị H2, Nguyễn Thị N2, Kim Thị T3, Bùi Thị T4, Lê Thị Mỹ X, Lê Thu E, Nguyễn Thị V1.
Có 01 hụi viên Nguyễn Thị N3 (là bị hại), Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng N3 và gia đình không có mặt ở địa phương, nên chưa làm việc được có yêu cầu hay không.
Đối với Lê Văn B là chồng của bị cáo, kết quả điều tra chứng minh được: ông B không có tham gia vào việc tổ chức mở các dây hụi của bị cáo mà bị cáo tự quyết định mở bao nhiêu dây, loại hụi, ai chơi, ai hốt, khui hụi, đi gom tiền hụi, giao tiền hụi cho ai. Việc bị cáo có hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của các hụi viên thì ông B không hay biết. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông B là phù hợp. Tuy nhiên, ông B biết và cũng không có hành động cụ thể gì ngăn cản việc bị cáo làm chủ hụi và việc bị cáo làm chủ hụi có hưởng tiền hoa hồng cũng nhằm sử dụng vào sinh hoạt gia đình, đồng thời việc bị cáo chiếm đoạt tiền của các hụi viên được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân với ông B.
Đối với những hụi viên có tham gia chơi trong 12 dây hụi bị cáo chiếm đoạt tiền của hụi viên, tuy nhiên những hụi viên này đã hốt hụi hoặc cho bị cáo mượn hụi. Hiện bị cáo và những hụi viên này tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu gì về phần dân sự.
Đối với các hụi viên có tham gia chơi hụi trong 12 dây hụi bị cáo có chiếm đoạt tiền của hụi viên. Bị cáo khai những hụi viên này đã hốt hụi và còn nợ tiền hụi chết của bị cáo. Quá trình điều tra không làm việc được với những hụi viên này do những người này không có mặt ở địa phương và không biết được hiện ở đâu, làm gì nên chưa làm rõ được về phần dân sự liên quan đến vụ án.
Đối với 13 dây hụi còn lại: dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 29/01/2022 âm lịch; dây hụi 2.000.000 đồng/tháng mở ngày 29/01/2022 âm lịch; dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 19/4/2022 âm lịch; dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 06/6/2022 âm lịch; dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 06/6/2022 âm lịch; dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 26/6/2022 âm lịch (dây 1); dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 26/6/2022 âm lịch (dây 2); dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 26/8/2022 âm lịch; dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/9/2022 âm lịch (dây 1); dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/9/2022 âm lịch (dây 2); dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 09/11/2022 âm lịch; dây hụi 200.000 đồng/tuần mở ngày 26/3/2023 âm lịch (dây 1); dây hụi 200.000 đồng/tuần mở ngày 26/3/2023 âm lịch (dây 2). Quá trình điều tra chứng minh được không có dấu hiệu tội phạm đối với những dây hụi này.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được trình bày nêu trên, bị cáo thống nhất cùng với chồng là ông Lê Văn B thanh toán các khoản tiền hụi theo yêu cầu của các bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về xã hội kiếm tiền trả cho các bị hại.
- Các bị hại có mặt tại phiên toà có yêu cầu bị cáo và chồng là ông B thanh toán tiền hụi, cụ thể: Bà Lư Mỹ L1 yêu cầu 154.400.000 đồng, bà Huỳnh Thị H1 yêu cầu 27.450.000 đồng, bà Lê Thị Cẩm L3 yêu cầu 54.900.000 đồng, bà Huỳnh Tuyết M yêu cầu 27.450.000 đồng, bà Huỳnh Ngọc H3 yêu cầu 11.450.000 đồng, ông Ngô Thanh P1 yêu cầu 75.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị S yêu cầu 33.910.000 đồng, bà Lê Thị N4 yêu cầu 60.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh L2 yêu cầu 27.860.000 đồng, bà Huỳnh Thị L yêu cầu 147.770.000 đồng, bà Huỳnh Hồng G yêu cầu 49.950.000 đồng, bà Phan Thị D2 yêu cầu 74.130.000 đồng, bà Phan Lệ T1 yêu cầu 32.000.000 đồng, bà Đặng Ánh N1 yêu cầu 20.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N2 yêu cầu 6.000.000 đồng, bà Trần Thị T6 yêu cầu 28.500.000 đồng. Các bị hại gồm bà Phan Lệ T1, bà Lư Mỹ L1 và bà Đặng Ánh N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại là bà Huỳnh Hồng G yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo lên 02 năm tù so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Ông B thống nhất cùng với bị cáo thanh toán các khoản tiền hụi theo yêu cầu của các bị hại.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa thống nhất sẽ khởi kiện tiền hụi đối với những dây hụi không có dấu hiệu tội phạm tại vụ án dân sự khác khi cần thiết.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo và chồng là ông Lê Văn B thanh toán số tiền hụi theo yêu cầu của các bị hại tổng số tiền là 1.246.520.000 đồng, riêng đối với 03 bị hại là Hồng Thị T5, Đoàn Hồng T2 và Nguyễn Thị V1 không yêu cầu bị cáo thanh toán tiền hụi và bị hại Nguyễn Thị N3 không làm việc được nên đề nghị không xem xét bồi thường.
Về vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị cáo và ông B phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu năm 2022 cho đến năm 2023, bị cáo làm chủ nhiều dây hụi tháng, tuần để hưởng tiền hoa hồng. Từ khoảng tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, bị cáo bị thâm hụt tiền do chi sài cá nhân và do nhiều hụi viên hốt hụi nhưng không đóng lại hụi chết, nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của hụi viên. Lợi dụng việc nhiều hụi viên không đi khui hụi, bị cáo đã 31 lần tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm hốt hụi trong 12 dây hụi chiếm đoạt số tiền 340.800.000 đồng.
Với hành vi và giá trị tài sản chiếm đoạt nêu trên thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền mà không bằng công sức do mình tạo ra. Bị cáo đã bất chấp dùng thủ đoạn gian dối trong thời gian dài để chiếm đoạt tài sản của nhiều người với số tiền rất lớn, gây bất bình trong xã hội, làm mất niềm tin trong các giao dịch dân sự, ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như thế mới đủ sức cải tạo giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo như sau: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; khắc phục được một phần thiệt hại, có một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa, ý kiến của các bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới đủ sức cải tạo bị cáo trở thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy, bị cáo bị cáo chiếm đoạt số tiền là 340.800.000 đồng, bị cáo chỉ mới khắc phục được một phần hậu quả số tiền 119.400.000 đồng (khoảng 1/3). Mặc khác, bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần (31 lần) và có bị hại đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Do đó, nếu xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ không đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội và cũng không tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và ông B thống nhất thanh toán tiền hụi cho các bị hại theo yêu cầu của các bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo cùng ông Lê Văn B thanh toán các khoản tiền hụi cho các bị hại, cụ thể như sau:
Bà Trần Mỹ H 96.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị H1 27.450.000 đồng, bà Huỳnh Thị V2 30.000.000 đồng, bà Lê Thị Cẩm L3 54.900.000 đồng, bà Huỳnh Tuyết M 27.450.000 đồng, bà Huỳnh Ngọc H3 11.450.000 đồng, ông Ngô Thanh P1 75.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị S 33.910.000 đồng, ông Nguyễn Nhựt P 27.450.000 đồng, bà Hứa Ngọc Q 54.000.000 đồng, bà Trần Thị T6 28.500.000 đồng, bà Lê Thị N4 60.000.000 đồng, bà Diệp Thị Á 3.000.000 đồng, bà Quách Thùy D 5.000.000 đồng, ông Nguyễn Thanh L2 27.860.000 đồng, bà Quách Thúy K 26.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị L 147.770.000 đồng, bà Huỳnh Hồng G 49.950.000 đồng, bà Phan Thị D2 74.130.000 đồng, bà Phan Lệ T1 32.000.000 đồng, bà Hồ Hồng D1 33.000.000 đồng, bà Lư Mỹ L1 154.400.000 đồng, bà Đặng Ánh N1 20.000.000 đồng, bà Đặng Thị H2 9.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N2 6.000.000 đồng, bà Kim Thị T3 16.000.000 đồng, bà Bùi Thị T4 46.000.000 đồng, bà Lê Thị Mỹ X 45.500.000 đồng, bà Lê Thu E 24.000.000 đồng, Nguyễn Thị N3 4.380.000 đồng. Tổng cộng 1.250.900.000 đồng.
Đối với bị hại là bà Hồng Thị T5, bà Đoàn Hồng T2, bà Nguyễn Thị V1 đã thoả thuận với bị cáo và không yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định bị cáo còn nợ tiền hụi đối với những dây hụi không có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Phạt bị cáo T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Thị T và ông Lê Văn B có nghĩa vụ thanh toán cho các bị hại tiền hụi còn nợ, cụ thể như sau, thanh toán cho:
- Bà Trần Mỹ H 96.000.000 đồng (Chín mươi sáu triệu đồng),
- Bà Huỳnh Thị H1 27.450.000 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng),
- Bà Huỳnh Thị V2 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng),
- Bà Lê Thị Cẩm L3 54.900.000 đồng (Năm mươi bốn triệu chín trăm nghìn đồng),
- Bà Huỳnh Tuyết M 27.450.000 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng),
- Bà Huỳnh Ngọc H3 11.450.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng),
- Ông Ngô Thanh P1 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng),
- Bà Huỳnh Thị S 33.910.000 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm mười nghìn đồng),
- Ông Nguyễn Nhựt P 27.450.000 đồng (Hai mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng),
- Bà Hứa Ngọc Q 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng),
- Bà Trần Thị T6 28.500.000 đồng (Hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng),
- Bà Lê Thị N4 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng),
- Bà Diệp Thị Á 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng),
- Bà Quách Thùy D 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng),
- Ông Nguyễn Thanh L2 27.860.000 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng),
- Bà Quách Thúy K 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng),
- Bà Huỳnh Thị L 147.770.000 đồng (Một trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng),
- Bà Huỳnh Hồng G 49.950.000 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng),
- Bà Phan Thị D2 74.130.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng),
- Bà Phan Lệ T1 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng),
- Bà Hồ Hồng D1 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng),
- Bà Lư Mỹ L1 154.400.000 đồng (Một trăm năm mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng),
- Bà Đặng Ánh N1 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng),
- Bà Đặng Thị H2 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng),
- Bà Nguyễn Thị N2 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng),
- Bà Kim Thị T3 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng),
- Bà Bùi Thị T4 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng),
- Bà Lê Thị Mỹ X 45.500.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng),
- Bà Lê Thu E 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng),
- Bà Nguyễn Thị N3 4.380.000 đồng (Bốn triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Tổng cộng 1.250.900.000 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi triệu chín trăm nghìn đồng).
- Về vật chứng:
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 02 tập học sinh nhãn hiệu Tân Tiến, trong đó có ghi các danh sách hụi do bị cáo giao nộp; 47 danh sách hụi do bị cáo và các hụi viên cung cấp.
- Về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và ông B phải chịu 49.527.000 đồng (Bốn mươi chín triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T - Lừa đảo
