Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Đào.
  2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Thị T, sinh ngày 01/01/1969; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, chồng là Nguyễn Văn T2 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền án: Không, tiền sự: Không; về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án về hành vi đánh bạc, ngày 29/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 201 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.

2. Họ và tên: Huỳnh Văn H, sinh ngày 01/01/1971; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn V và bà Phạm Mỹ V1, vợ là Hồ Hồng H1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 254 ngày 06/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

3. Họ và tên: Nguyễn Thành L (tên gọi khác: N), sinh ngày 05/3/1992; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Dương Thị T, bị cáo chưa có vợ con; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 202 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

4. Họ và tên: Nguyễn Thị H2, sinh ngày 06/8/1966; nơi sinh: T - Kiên Giang. Nơi cư trú: tổ H, ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) và bà Trần Thị M (đã chết), chồng là Nguyễn Phước D và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1999. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 194 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.

5. Họ và tên: Lê Văn T3, sinh ngày 06/6/1991; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: tổ E, ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh S và bà Quách Thị C, vợ là Huỳnh Kim X1; anh chị em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 191 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

6. Họ và tên: Lê Thanh S, sinh ngày 01/01/1966; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: tổ E, ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S1 (đã chết) và bà Trần Thị S2 (đã chết), vợ là Quách Thị C và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 199 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

7. Họ và tên: Nguyễn Thị B, sinh ngày 03/8/1994; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị N1, chồng là Danh Minh H4 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2016. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 192 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Có đơn xin vắng mặt.

8. Họ và tên: Lý Ngọc P, sinh ngày 15/7/1974; nơi sinh: Quận T - Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Đ (đã chết) và bà Vũ Thị L2, vợ là Nguyễn Thị P1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 1996. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 193 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

9. Họ và tên: Danh L4, sinh ngày 01/01/1961; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: 09106100594, nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh H5 (đã chết) và bà Thị B1 (đã chết), vợ là Thị B2 và 04 người con; lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 195 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

10. Họ và tên: Lý Văn H6, sinh ngày 01/01/1958; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Ô (đã chết) và bà Thị T4, vợ là Thị Kim S3 và 05 người con; lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 195 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

11. Họ và tên: Danh C1, sinh ngày 01/01/1980; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh S4 (đã chết) và bà Thị S3 (tự: Thị Tuốt) (đã chết), vợ là Nguyễn Thị O và 03 người con; lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 203 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

12. Họ và tên: Danh Dg, sinh ngày 01/01/1993; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh L3 và bà Thị H2, vợ là Thị V2 và 02 người con; lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 197 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

13. Họ và tên: Trần Văn T5, sinh ngày 01/01/1982; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B3 và bà Vương Ngọc H7, vợ là Trần Thị T6 và 02 người con; lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 198 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

14. Họ và tên: Tô Sĩ P2, sinh ngày 07/3/1997; nơi sinh: C - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngTô Cao và bà Huỳnh Ánh V3, bị cáo chưa có vợ con; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 200 ngày 12/6/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T2, sinh ngày 01/01/1968. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị Hồng T7, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 09/6/2024, Công an huyện G tiến hành bắt quả tang Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Nguyễn Thị H2, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2, Nguyễn Thành L đang đánh bạc ăn thua bằng tiền, bằng hình thức se bông dụ tại phần đất phía sau nhà của Huỳnh Văn H thuộc ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Tại hiện trường Công an thu giữ: Tiền trên chiếu bạc là: 1.000.000đ (Mộttriệu đồng); 01 (một) tấm bạc màu trắng trên tấm bạc có chữ “TÀI”, “XỈU” và các chấm tròn màu xanh đỏ kích thước 85cm x 64cm; 01 (một) chiếc đĩa tròn bằng sứ màu xanh trắng, đường kính 21cm; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu vàng, đường kính 26cm; 01 (một) chiếu lát có viền màu đỏ, khổ 1,6m x 2m. Qua kiểm tra trên người các đối tượng tạm giữ số tiền là 37.715.000đ (Ba mươi bảy triệu bảy trăm mười lăm nghìn đồng), 10 điện thoại di động các loại, 07 xe máy các loại. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ các tang vật chứng.

Quá trình điều tra xác định vào khoảng 13 giờ ngày 09/6/2024 Dương Thị T từ nhà đi xe ôm đến quán nước của Huỳnh Văn H thuộc ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang để uống cà phê và chơi game bắn cá. Trong lúc đang chơi thì T hỏi mượn địa điểm phía sau nhà của H để tổ chức chơi bông dụ ăn tiền, nếu thắng sẽ cho H tiền từ 100.000đ đến 200.000đ. Do được hưởng lợi ích từ việc cho mượn địa điểm chơi đánh bạc cùng với việc sẽ bán được nước uống cho các con bạc nên H đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại cho Nguyễn Thành L (là con ruột) đem bộ dụng cụ gồm: Đĩa, hột bông dụ, thau và tấm bạc đặt bông dụ có chữ “T8”-“Xỉu” đến quán của Huỳnh Văn H để đánh bạc ăn tiền. Khi đến nơi lúc này khoảng 15 giờ cùng ngày, L đi ra phía sau nhà H, lấy chiếc chiếu lát có sẵn tại chuồng gà, đồng thời lấy tấm bạc đem theo trải ra để chơi bông dụ. Khi bắt đầu làm cái, Nguyễn Thị H2 tham gia hùn tiền với L với số tiền 1.000.000 đồng thì L đồng ý và quy định sau khi kết thúc đánh bạc thắng, thua sẽ chia ra với tỉ lệ 7:3 (nghĩa là L được chia 70%, còn H2 được chia 30%), còn đối với Dương Thị T nếu thắng sẽ cho T từ 50.000đ đến 100.000đ. Khi sòng bạc diễn ra thì Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 lần lượt đến tham gia đặt tụ.Nguyễn Thành L là người trực tiếp làm cái, gom và chung tiền cho các con bạc. Mức độ thắng thua trong một lần đặt dao động từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Hình thức chơi như sau: Người làm cái sẽ để hột lục giác có dùng thanh tre nhỏ xiên qua 2 đầu đặt xuống đĩa, dùng hai ngón tay se cho hột lục giác xoay tròn đứng trên đĩa, rồi dùng thau úp lại, khi hột lục giác ngừng xoay nằm xuống đĩa thì sẽ mở thau ra, xem mặt trên hột lục giác là kết quả của việc se bông dụ, mỗi mặt lục giác tương ứng từ 1 chấm đến 6 chấm. Cách thức ăn thua: Đặt 1 cửa tỷ lệ 1 trúng 4, ví dụ người chơi đặt vào ô 1 chấm số tiền là 10.000đ kết quả se bông dụ là 1 chấm thì sẽ trúng 40.000đ; Đặt khe (2 cửa) tỷ lệ 1 trúng 2; Bao chẵn (Bao số điểm là 2,4,6) nếu ra chấm số 2 thì tỷ lệ 1 trúng 2, còn ngay số 4 và 6 thì trúng 0,5; Bao lẻ (Bao số điểm 1,3,5) nếu ra chấm số 5 thì tỷ lệ 1 trúng 2, còn ngay số 1 và 3 thì trúng 0,5; Bao tài (Bao số điểm là 4,5,6) nếu ra chấm số 5 thì tỷ lệ 1 trúng 2, còn ngay số 4 và 6 thì trúng 0,5; Bao xĩu (Bao số điểm 1,2,3) nếu ra chấm số 2 thì tỷ lệ 1 trúng 2, còn ngay số 1 và 3 thì trúng 0,5.

Các con bạc đang tham gia se bông dụ đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an vào bắt quả tang. Tổng số tiền mà bị cáo Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Nguyễn Thị H2, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2, Nguyễn Thành L dùng để đánh bạc trong ngày 09/6/2024 là 11.855.000đ (trong đó tiền trên chiếu bạc 1.000.000đ, tiền các con bạc dùng để đánh bạc là 10.855.000đ), cụ thể như sau: Lê Văn T3 số tiền dùng để đánh bạc là 1.720.000đ;Nguyễn Thị B số tiền dùng để đánh bạc là 240.000đ; ý Ngọc P3 số tiền dùng để đánh bạc là 30.000đ; Danh L4 số tiền dùng để đánh bạc là 1.200.000đ; Lý Văn H6 số tiền dùng để đánh bạc là 3.615.000đ. D2 C1 số tiền dùng để đánh bạc là 300.000đ; Danh Dg số tiền dùng để đánh bạc 200.000đ, trong lúc tham gia đã thua hết 200.000đ; Trần Văn T5 số tiền dùng để đánh bạc là 1.250.000đ; Tô Sĩ P2 số tiền dùng để đánh bạc là 2.150.000đ. Lê Thanh S số tiền dùng để đánh bạc là 500.000đ, trong lúc tham gia đã thua hết 500.000đ. Nguyễn Thành L số tiền dùng để đánh bạc là 350.000đ.

Trong ngày 09/6/2024 khi sòng bạc diễn ra thì bị cáo T không có đi ra phía sau tham gia đánh bạc, mà ở trong nhà của H để chơi game bắn cá. Một lúc sau các con bạc muốn uống nước và hút thuốc lá thì bị cáo L nhờ T mang nước và thuốc lá ra bán cho các con bạc giùm cho bị cáo H. Ngoài ra, bị cáo T còn khai nhận vào năm 2023,T có đến nhà bị cáo H để xin địa điểm tổ chức đánh bạc được hai lần, mỗi lần mượn địa điểm tổ chức đánh bạc xong thì T cho bị cáo H số tiền 200.000đ, tổng hai lần bị cáo H được thu lợi từ việc cho mượn địa điểm là 400.000đ. Trong ngày 09/6/2024 bị cáo H chưa nhận được số tiền cho mượn địa điểm đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Vật chứng: Tại hiện trường lực lượng Công an tạmgiữ, gồm:

  • - 01 (một) tấm bạc màu trắng trên tấm bạc có chữ “TÀI”, “XỈU” và các chấm tròn màu xanh đỏ kích thước 85cm x 64cm;
  • - 01 (một) chiếc đĩa tròn bằng sứ màu xanh trắng, đường kính 21cm;
  • - 01 (một) cái thau bằng nhựa màu vàng, đường kính 26cm;
  • - 01 (một) chiếu lát có viền màu đỏ, khổ 1,6m x 2m;
  • - 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu Masstel màu xanh, số Imei: 351402853335803 (thư giữ của bị cáo T).

Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.

- Tiền VNĐ 12.605.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc 1.000.000đ, tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.855.000đ, cụ thể như sau: Nguyễn Thành L số tiền 350.000đ. Lê Văn T3 số tiền 1.720.000đ; Nguyễn Thị B số tiền 240.000đ; Lý Ngọc P số tiền 30.000đ; Danh Lâm số tiền 1.200.000đ; Lý Văn H6 số tiền 3.615.000đ. Danh C1 số tiền 300.000đ; Trần Văn T5 số tiền 1.250.000đ. Tô Sĩ P2 số tiền 2.150.000đ và Huỳnh Văn H nộp 400.000đ, 350.000đ thu giữ của Dương Thị T khi bắt quả tang), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 12/12/2024.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSND-GQ, ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố bị cáo Dương Thị T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Gá bạc”; Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thị T từ 12 đến 18 tháng tù giam.

+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H2 hình phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt các bị cáo Lê Văn T3, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 hình phạt tiền; mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị B hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Gò Quao tịch thu vào ngân sách Nhà Nước số tiền 11.855.000đ, trong đó tiền trên chiếu bạc 1.000.000đ, tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.855.000đ, cụ thể như sau: Nguyễn Thành L số tiền 350.000đ. Lê Văn T3 số tiền 1.720.000đ; Nguyễn Thị B số tiền 240.000đ; Lý Ngọc P số tiền 30.000đ; Danh Lâm số tiền 1.200.000đ; Lý Văn H6 số tiền 3.615.000đ. Danh C1 số tiền 300.000đ; Trần Văn T5 số tiền 1.250.000đ. Tô Sĩ P2 số tiền 2.150.000đ và Huỳnh Văn H nộp 400.000đ, 350.000đ thu giữ của Dương Thị T khi bắt quả tang), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 12/12/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị B và người chứng kiến chị Nguyễn Thị Hồng T7 đều có đơn xin vắng mặt. Xét thấy tại đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo B trình bày đang mang thai đến tuần 37 và sắp đến ngày dự sanh nên không thể tham dự phiên tòa; xét việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 290, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Dương Thị T, Huỳnh Văn H, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 09/6/2024 tại ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Công an huyện G bắt quả tang các đối tượng Dương Thị T, Huỳnh Văn H, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 tham gia đánh bạc, qua điều tra xác định bị cáo Dương Thị T đã đứng ra tổ chức đánh bạc, bị cáo Huỳnh Văn H gá bạc (cho mượn chỗ) để cho các đối tượng tham gia gồm: Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức se bông dụ, số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.855.000 đồng. [4] Bị cáo Dương Thị T có vai trò đứng ra tổ chức, chuẩn bị dụng cụ và hỏi mượn địa điểm của bị cáo Huỳnh Văn H, để cho các con bạc chơi bạc nhằm thu lợi bất chính; bị cáo H cho mượn địa điểm để đánh bạc nhằm được lợi từ việc mua bán nước uống và số tiền 400.000đ. Như vậy, hành vi của bị cáo Dương Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố các bị báo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [5] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, được pháp luật Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân, bất chấp pháp luật các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc của các bị cáo còn là một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ vì nó để lại hậu quả xấu cho xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác; với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu; vào ngày 29/5/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội đánh bạc, do đó cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt. Xong xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha (là ông Dương Văn T1) là người có công với cách mạng nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Huỳnh Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;Các bị cáo Lê Văn T3, Lý Ngọc P, Nguyễn Thị H2, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;Các bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có ông ngoại là người có công với các mạng nên cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[7] Về xử lý vật chứng:

Tiền VNĐ 12.255.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc 1.000.000đ, tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.855.000đ, cụ thể như sau: Nguyễn Thành L số tiền 350.000đ. Lê Văn T3 số tiền 1.720.000đ; Nguyễn Thị B số tiền 240.000đ; Lý Ngọc P số tiền 30.000đ; Danh Lâm số tiền 1.200.000đ; Lý Văn H6 số tiền 3.615.000đ. Danh C1 số tiền 300.000đ; Trần Văn T5 số tiền 1.250.000đ. Tô Sĩ P2 số tiền 2.150.000đ và 400.000₫ Huỳnh Văn H nộp thu lợi bất chính), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 12/12/2024, là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Dương Thị T số tiền 350.000₫ vì không liên quan đến việc đánh bạc (được nộp chung theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 12/12/2024).

Một điện thoại bàn phím nhãn hiệu Masstel màu xanh, số Imei: 351402853335803 là phương tiện bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Một tấm bạc màu trắng trên tấm bạc có chữ “TÀI”, “XỈU” và các chấm tròn màu xanh đỏ kích thước 85cm x 64cm;01 (một) chiếc đĩa tròn bằng sứ màu xanh trắng, đường kính 21cm;01 (một) cái thau bằng nhựa màu vàng, đường kính 26cm;01 (một) chiếu lát có viền màu đỏ, khổ 1,6m x 2m. Là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Ghi nhận việc Cơ quan điều tra trao trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp theo các biên bản về việc trao trả tài sản ngày 25/6/2024, ngày 27/6/2024 và ngày 09/11/2024 (búc lục 296 đến búc lục 319; búc lục 322 đến búc lục 330).

[8] Đối với hành vi của Nguyễn Văn T2 có đến nơi đánh bạc, trong lúc các con bạc chưa tham gia đặt tụ thì T2 chỉ chơi bông bỏ khoảng 03 đến 04 bàn, do trong người không khỏe nên đã đi về. Do đó, hành vi của T2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Đối với Lê Văn T9 đến để uống cà phê, không tham gia đánh bạc.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Gá bạc”; Các bị cáo Lê Văn T3, Lý Ngọc P, Nguyễn Thị H2, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Thị T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời điểm chấp hành án tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H hình phạt tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L hình phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H2 hình phạt tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Lê Văn T3, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2 hình phạt tiền, mỗi bị cáo phải nộp là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B hình phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại bàn phím nhãn hiệu Masstel màu xanh, số Imei: 351402853335803 (thu giữ của bị cáo T, đã qua sử dụng);

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền VNĐ 12.255.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc 1.000.000đ, tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.855.000đ, cụ thể như sau: Nguyễn Thành L 350.000đ. Lê Văn T3 1.720.000đ; Nguyễn Thị B 240.000đ; Lý Ngọc P 30.000đ; Danh Lâm 1.200.000đ; Lý Văn H6 3.615.000đ. Danh C1 300.000đ; Trần Văn T5 1.250.000đ. Tô Sĩ Phương 2.150.000đ và Huỳnh Văn H giao nộp 400.000₫), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 12/12/2024;

Trả lại cho bị cáo Dương Thị T số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm bạc màu trắng trên tấm bạc có chữ “TÀI”, “XỈU” và các chấm tròn màu xanh đỏ kích thước 85cm x 64cm; 01 chiếc đĩa tròn bằng sứ màu xanh trắng, đường kính 21cm; 01 cái thau bằng nhựa màu vàng, đường kính 26cm; 01 chiếu lát có viền màu đỏ, khổ 1,6m x 2m.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Dương Thị T, Huỳnh Văn H, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thị H2, Lê Văn T3, Nguyễn Thị B, Lý Ngọc P, Danh L4, Lý Văn H6, Danh C1, Danh Dg, Trần Văn T5, Lê Thanh S, Tô Sĩ P2, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tôn

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện KSND huyện Gò Quao;
  • - Viện KSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Quao;
  • - Cơ quan CSĐT;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HSVA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc, Gá bạc, Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị T phạm tội tổ chức đánh bạc, Huỳnh Văn H Gá bạc và 12 đồng phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger