Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 10 /2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hồng Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Bạch Tuyết;
  2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 03 năm 2025 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

1. Nguyễn Đình C; giới tính: Nam; sinh ngày 09/12/2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Đình X, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1974; A, chị, em: 01 người, sinh năm: 1995; Vợ, con: Không có.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 13/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 18/11/2024.

Nhân thân:

  • Bản án số 11/2018/HS-ST ngày 20/6/2018 Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Bản án số 24/2018/HS-ST ngày 15/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Thanh H; giới tính: Nam; sinh ngày 14/12/1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 224 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Lê Thanh P, sinh năm: 1978 và bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1980; A, chị, em: 01 người em, sinh năm: 2004; Vợ, con: Không có.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 25/4/2023 bị Công an xã B xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

  • Ngày 30/8/2015 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản.
  • Ngày 16/3/2020 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 16/9/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/12/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Trần Hoàng N, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình C vừa chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trở về địa phương vào ngày 19/11/2024, do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 19/11/2024, Nguyễn Đình C đi bộ đến khu vực ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trèo hàng rào đột nhập vào Cửa hàng vật liệu xây dựng Tám Tình của anh Nguyễn Trần Hoàng N, sinh năm: 1990, HKTT: số E, ấp B, xã B, huyện C trộm cắp 8.100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu trắng bỏ vào túi quần rồi trèo hàng rào tẩu thoát ra ngoài. Trên đường đi về đến khu vực công viên thuộc ấp B, xã B, huyện C, khoảng 23 giờ cùng ngày C gặp bạn là Lê Thanh H đang ngồi chơi với bạn gái là Huỳnh Thị Tuyết N1 ở ghế đá. C gọi H ra ngoài rồi đưa cho H chiếc điện thoại và nói "Điện thoại tao mới lấy trộm, tao cho mày, muốn làm gì thì làm", H cầm lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi quay lại chơi với bạn gái, còn C đi về nhà ngủ.

Đến sáng ngày 20/11/2024, Nguyễn Đình C đem số tiền trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại di động H của ông Nguyễn Hoàng S tại ấp B, xã B mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Relmi, với giá tiền 3.000.000 đồng, rồi đi đến khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh chơi và tiêu xài hết 3.100.000 đồng, còn 1.500.000 đồng C cất giữ trong người và giao nộp cho Cơ quan Công an khi bị mời đến làm việc. Đối với Lê Thanh H, đến khoảng 11 giờ ngày 20/11/2024 H đem chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Điệp P1, tại địa chỉ: A N, Phường L, Thành phố T bán cho anh Phạm Văn Đ, sinh năm: 1999, HKTT: khu phố C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được 3.000.000 đồng, sau đó anh Đ đã bán lại cho khách vãng lai, nên Cơ quan điều tra không thu hồi lại được.

Tiếp nhận trình báo của người bị hại. Công an xã B phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiến hành truy xét và ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình C, đồng thời triệu tập Lê Thanh H và những người có liên quan đến làm việc.

Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận chiếc điện thoại Iphone XS Max, màu trắng có giá trị thành tiền là 3.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Relmi, (đã qua sử dụng) đã trả lại cho ông Nguyễn Hoàng S;
  • Tiền Việt Nam: 8.000.000 đồng, (trong đó ông Nguyễn Hoàng S giao nộp 3.500.000 đồng; Lê Thanh H giao nộp 3.000.000 đồng; Nguyễn Đình C giao nộp 1.500.000 đồng), đã trả lại cho anh Nguyễn Trần Hoàng N.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSHCG, ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, truy tố bị cáo Nguyễn Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và Lê Thanh H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố và thừa nhận nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng; lời khai của bị cáo trùng khớp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T1, H về tội danh và điều khoản như bản Cáo trạng đã nêu.
  • - Đề nghị áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Đề nghị áp dụng Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Lê Thanh H hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 19/11/2024, Nguyễn Đình C lợi dụng đêm khuya đã có hành vi lén lút đột nhập vào cửa hàng V thuộc ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Trần Hoàng N với số tiền 8.100.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu trắng, kết quả định giá có giá trị 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 11.600.000 đồng nên hành vi của bị cáo Nguyễn Đình C đã phạm tội Trộm cắp tài sản tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lê Thanh H không hứa hẹn trước, mà tiêu thụ chiếc điện thoại di động biết rõ là do Nguyễn Đình C trộm cắp mà có được, tài sản có giá trị 3.500.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt của các bị cáo:

Các bị cáo có đủ năng lực, hành vi để nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật và được quy định trong Bộ luật hình sự nên cần phải xem xét, xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Chung thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trộng; phạm tội gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về quyết định hình phạt: Các bị cáo đều có nhân thân không tốt. Bị cáo Chung có nhiều tiền án, tiền sự và bị cáo H tại thời điểm phạm tội đang có tiền sự mà lại thực hiện hành vi phạm tội là xem thường pháp luật nên cần thiết cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

[4] Chị N1 đi bán điện thoại cùng bị cáo H, và anh Đ mua điện thoại của bị cáo H, nhưng chị N1, anh H không biết điện thoại bị cáo H đem bán là do phạm tội mà có; anh S bán chiếc điện thoại cho C, không biết C dùng tiền mua điện thoại là tiền trộm cắp. Nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị N1, anh Đ, anh S là đúng quy định pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Mỗi bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Thanh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên xử:
    • - Căn khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 22/11/2024.
    • - Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo chấp hành bản án.
    • - Căn khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Xử phạt bị Lê Thanh H: 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành bản án.
  2. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Mỗi bị cáo Nguyễn Đình C, Lê Thanh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an TP.HCM;
  • - VKSND H. Cần Giờ;
  • - THADS H. Cần Giờ;
  • - UBND xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - PV06 CA. TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Lưu Vp, hs vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hồng Khanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình C vừa chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trở về địa phương vào ngày 19/11/2024, do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 19/11/2024, Nguyễn Đình C đi bộ đến khu vực ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trèo hàng rào đột nhập vào Cửa hàng vật liệu xây dựng Tám Tình của anh Nguyễn Trần Hoàng N, sinh năm: 1990, HKTT: số E, ấp B, xã B, huyện C trộm cắp 8.100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu trắng bỏ vào túi quần rồi trèo hàng rào tẩu thoát ra ngoài. Trên đường đi về đến khu vực công viên thuộc ấp B, xã B, huyện C, khoảng 23 giờ cùng ngày C gặp bạn là Lê Thanh H đang ngồi chơi với bạn gái là Huỳnh Thị Tuyết N1 ở ghế đá. C gọi H ra ngoài rồi đưa cho H chiếc điện thoại và nói "Điện thoại tao mới lấy trộm, tao cho mày, muốn làm gì thì làm", H cầm lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi quay lại chơi với bạn gái, còn C đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 20/11/2024, Nguyễn Đình C đem số tiền trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại di động H của ông Nguyễn Hoàng S tại ấp B, xã B mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Relmi với giá tiền 3.500.000 đồng, rồi đi đến khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh chơi và tiêu xài hết 3.100.000 đồng, còn 1.500.000 đồng C cất giữ trong người và giao nộp cho Cơ quan Công an khi bị mời đến làm việc. Đối với Lê Thanh H, đến khoảng 11 giờ ngày 20/11/2024 H đem chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Điệp P1, tại địa chỉ: A N, Phường L, Thành phố T bán cho anh Phạm Văn Đ, sinh năm: 1999, HKTT: khu phố C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được 3.000.000 đồng,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger