Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ – ST

Ngày 18 tháng 3 năm 2025.

“V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lương Văn Thắng;
  2. Ông Sần Thó Suy;

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Long - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025; Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Sùng A P, sinh ngày 30/5/1994;
  2. Địa chỉ: Thôn Y, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Chị Lồ Thị B, sinh ngày 06/3/1994.
  4. Địa chỉ: Thôn Y, xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai.

    Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 24/12/2024 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn anh Sùng A P trình bày:

Anh và chị Lồ Thị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, đến ngày 10/12/2013 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Lào Cai theo giấy đăng ký số 46, ngày 10/12/2013.

Sau khi đăng ký kết hôn, anh, chị sống với nhau đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh nghi ngờ chị Bầu ngoại tình, bản thân chị Bầu không quan tâm chăm sóc gia đình. Anh đã khuyên giải nhiều lần nhưng chị Bầu không khắc phục được, cũng từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và không tôn trọng nhau, thực tế từ năm 2021 hai vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không khắc phục được, anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lồ Thị B.

Về con: Trong thời gian chung sống, vợ chồng sinh được 02 con chung, cháu thứ nhất tên là Sùng A C, sinh ngày 20/9/2012; cháu thứ hai tên là Sùng Thị Ch, sinh ngày 08/11/2014. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả 02 con cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị Lồ Thị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh và chị Lồ Thị B không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Lồ Thị B, do chị thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, vì vậy không tống đạt trực tiếp được, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng chị Bầu không đến và không nộp tài liệu chứng cứ gì.

Đối với vụ án này Tòa án không hòa giải được vì anh Sùng A P có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải.

Tại phiên toà:

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát có quan điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo quy định pháp luật. Thư ký phiên toà và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Đều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Sùng A P được ly hôn chị Lồ Thị B.

Về con chung: Giao cả hai cháu, cháu thứ nhất tên là Sùng A Cà, sinh ngày 20/9/2012; cháu thứ hai tên là Sùng Thị Chi, sinh ngày 08/11/2014 cho anh Sùng A P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Sùng A P không yêu cầu chị Lồ Thị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về án phí: Anh Sùng A P là hộ nghèo, vì vậy căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, anh Sùng A P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Lồ Thị B có nơi cư trú tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Như vậy Tòa án nhân dân huyện Bát Xát thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Sùng A P có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lồ Thị B vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Sùng A P và chị Lồ Thị B.

[2] Anh Sùng A P và chị Lồ Thị B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, đến ngày 10/12/2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A Mú Sung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo giấy đăng ký số 46, ngày 10/12/2013 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.

[3] Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn trình bày thì sau khi đăng ký kết hôn, anh, chị sống với nhau đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh ghen tuông với chị B, từ đó vợ chồng luôn cãi chửi nhau, chị Bầu không quan tâm chăm sóc gia đình. Anh đã bỏ qua nhiều lần nhưng chị Bầu không khắc phục được, thực tế từ năm 2021 hai vợ chồng đã sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn của anh Sùng A P và chị Lồ Thị B là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do anh Páo cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương. Nay anh P xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của anh Páo, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho anh Sùng A P được ly hôn chị Lồ Thị B.

[4] Về con: Anh Sùng A P và chị Lồ Thị B sinh được 02 con chung, cháu thứ nhất tên là Sùng A C, sinh ngày 20/9/2012; cháu thứ hai tên là Sùng Thị Ch, sinh ngày 08/11/2014. Khi ly hôn anh Sùng A P có nguyện vọng được nuôi cả 02 con cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Xét thấy anh Sùng A P là lao động tự do, thu nhập bình quân theo xác nhận của địa phương nơi anh Páo cư trú từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày, cháu Sùng A C và cháu Sùng Thị Ch khi hỏi ý kiến các cháu, các cháu đều muốn ở với anh P, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Sùng A P, giao cháu Sùng A C và cháu Sùng Thị Ch cho anh Sùng A P nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung:

Anh Sùng A P không yêu cầu chị Lồ Thị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy yêu cầu của anh Páo là tự nguyện, vì vậy tạm thời chị Lồ Thị B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[6] Về tài sản: Anh Sùng A P không yêu cầu Toà án giải quyết, trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Anh Sùng A P có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ vào đơn xin miễn án phí và Giấy chứng nhận hộ nghèo hộ cận nghèo số 351/GCN-HN.HCN ngày 12/12/2024 do Ủy ban nhân dân xã A Mú Sung, huyện Bát Xát cấp thì hộ anh Sùng A P là hộ nghèo.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Anh Sùng A P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Xử cho anh Sùng A P được ly hôn chị Lồ Thị B. Quan hệ hôn nhân của anh Sùng A P và chị Lồ Thị B chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con: Anh Sùng A P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sùng A Cà, sinh ngày 20/9/2012 và cháu Sùng Thị Chi, sinh ngày 08/11/2014 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
  3. Tạm thời chị Lồ Thị B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Chị Lồ Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Anh Sùng A P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh;
  • - VKSND H. Bát Xát (2);
  • - Đương sự (2);
  • - UBND xã A ;
  • - THA DS;
  • - Lưu TA,VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Duy Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ – ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Sùng A P ly hôn chị Lồ Thị B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger