Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẠCH THÔNG

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 12/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lăng Văn Thủy

Bà Triệu Thị Hiến

Thư ký phiên toà: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nông Văn M

(tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 09 năm 1974 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn N (đã chết) và bà Đào Thị P (đã chết); có vợ là Phùng Thị B, có 01 con; Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  • + Anh Đồng Phúc H – Sinh năm 1992. Vắng mặt
  • Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Phố Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
  • + Anh Đặng Văn T – Sinh năm 1983. Vắng mặt
  • Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
  • + Anh Mạc Thiêm H1 – Sinh năm 1993. Vắng mặt
  • Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 45 phút, ngày 05/8/2024, tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B bắt quả tang Chu Minh H2, sinh năm 1975, trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình kiểm tra, H2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 02 (hai) gói nhỏ nghi vấn là chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy đối với số chất có trong 02 (hai) gói nhỏ vừa thu giữ của H2, kết quả thử phản ứng trùng với phản ứng đặc trưng ma túy (Heroine). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Minh H2 kết quả phát hiện và thu giữ: 04 (bốn) xi lanh nhựa, 01 (một) gói nhỏ được gói bằng túi nilon màu trắng đục bên trong có chứa chất màu hồng nghi vấn là chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với các Cơ quan liên quan tiến hành mở niêm phong tiến hành cân xác định khối lượng chất ma túy có kết quả như sau: Tổng khối lượng số chất ma túy có trong 03 (ba) gói nhỏ là 0,5g (không phẩy năm gam). Kết luận giám định số: 275/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ1 gửi giám định là ma túy loại Heroine và loại Methamphetamine. Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ2 gửi giám định là ma túy loại Heroine. Mẫu chất màu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ3 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Chu Minh H2 khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/8/2024, H2 một mình đi bộ từ nhà tại thôn K, xã Q, huyện B đến ngã ba H, đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông lạ mặt (H2 không biết tên, tuổi, địa chỉ) xuống thành phố B nhằm mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán cho những người nghiện khác để kiếm lời. Khi xuống đến khu vực cầu H thuộc địa phận tổ B, phường H, thành phố B thì H2 xuống xe và gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi có biểu hiện giống người nghiện ma túy, H2 lại gần và hỏi mua ma túy. Người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho H2 02 (hai) gói nhỏ ma túy. Sau khi mua được ma túy, H2 đi xe ôm về nhà, đến gần nhà thì H2 xuống xe đi bộ vào nhà. Khi đi đến sân nhà thì H2 bị tổ công tác của Công an huyện B kiểm tra và bắt quả tang. Quá trình làm việc Chu Minh H2 khai nhận được bán trái phép chất ma túy cho những người nghiện khác và cho sử dụng ma túy tại nhà của H2 như sau:

  • - Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 25/7/2024, H2 bán ma túy cho Mạc Thiêm H1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (cùng đi với Hội có Đồng Phúc H, sinh năm 1992, trú tại Phố Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi mua được ma túy thì H1 hỏi H2: “Anh cho bọn em chơi ở đây luôn nhé”, H2 đồng ý. Quá trình Chu Minh H2 bán ma túy cho H1 và cho H1 cùng H sử dụng ma túy tại nhà H2 thì Nông Văn M có mặt và nhìn thấy, nghe thấy, chứng kiến toàn bộ sự việc.
  • - Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 26/7/2024, Đồng Phúc H, sinh năm 1992, trú tại phố Đ, thị trấn P, huyện B một mình vào nhà H2 hỏi mua ma túy. H2 bán cho H 02 (hai) gói ma túy với số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy H hỏi H2: “Anh cho em chơi ở đây được không, chứ về đi đường sợ lắm”, H2 đồng ý. H lấy xilanh và nước cất trong người ra pha với ma túy vừa mua được rồi sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể tại bàn uống nước nhà H2. Quá trình mua bán ma túy với H và cho H sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì có Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy và chứng kiến toàn bộ sự việc.
  • - Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 04/8/2024, Chu Minh H2 cùng Nông Văn M đang ngồi trên giường trong phòng khách thì Đặng Văn T, sinh năm 1983, trú tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào nhà ngồi tại bàn uống nước và hỏi H2: “Có không để cho em một ít”, ý là có ma túy bán không thì bán cho T, H2 đồng ý cầm tiền rồi đưa cho T 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy thì T hỏi hỏi H2: “Em chơi luôn ở đây được không”, H2 đồng ý, T lấy xilanh trong người ra, lấy chiếc chén uống nước ở trên bàn và lấy một ít nước lọc trong một bình nước lọc rồi pha với ma túy để sử dụng tại nhà của Chu Minh H2. Quá trình mua bán ma túy với T và cho T sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì có Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy và chứng kiến toàn bộ sự việc.
  • - Lần thứ tư: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, Phùng Văn K, sinh năm 2001, trú tại thôn N, xã S, huyện B đến nhà hỏi mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), H2 đồng ý cầm tiền rồi đưa cho K 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy thì K hỏi H2: “Cháu ngồi đây chơi được không”, ý là cho K sử dụng ma túy ở nhà H2 luôn, H2 đồng ý. K lấy xilanh, nước cất trong người ra pha với số ma túy vừa mua, sử dụng hết. Lần này Nông Văn M không được chứng kiến.

Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2024, tại nhà của Chu Minh H2, H2 đưa cho M 01 (một) gói ma túy với mục đích trả công cho M vì đã giúp H2 làm việc nhà. Sau khi đưa ma túy cho M xong H2 bảo M đi về để H2 đóng cửa đi ngủ sớm. Chu Minh H2 khẳng định 03 (ba) lần H2 bán trái phép chất ma túy và cho Mạc Thiêm H1, Đồng Phúc H và Đặng Văn T sử dụng ma túy tại nhà của H2 như đã nêu thì có Nông Văn M, sinh năm 1974, trú tại thôn C, xã Q, huyện B là người thường xuyên ở nhà Chu Minh H2 để giúp H2 làm việc nhà, Nông Văn M đều chứng kiến, nhìn thấy, nghe thấy toàn bộ sự việc.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Nông Văn M thừa nhận: Khi Chu Minh H2 bán trái phép chất ma túy cho Mạc Thiêm H1, Đồng Phúc H và Đặng Văn T và cho H1, H và T sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì Nông Văn M đều nhìn thấy, nghe thấy, chứng kiến việc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy và việc H2 đồng ý cho những người trên sử dụng ma túy tại nhà. Cụ thể: Ngày 25/7/2024 bán cho Mạc Thiêm Hội 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và cho Mạc Thiêm H1 và Đồng Phúc H sử dụng ma túy tại nhà của H2, ngày 26/7/2024 bán cho Đồng Phúc H 02 (hai) gói ma túy với giá

400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) và cho H sử dụng ma túy tại nhà của H2, ngày 04/8/2024 bán cho Đặng Văn T 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và cho T sử dụng ma túy tại nhà của H2. Ngày 03/8/2024, Nông Văn M còn được Chu Minh H2 cho 01 (một) gói nhỏ ma túy để sử dụng, M đã sử dụng hết.

Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt người làm chứng Mạc Thiêm Hội trình này: Khoảng 10 giờ ngày 25/7/2024, Mạc Thiêm H1 đến nhà Chu Minh H2 hỏi H2 mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); đi theo Hội có Đồng Phúc H, sinh năm 1992, trú tại Phố Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi mua được ma túy thì H1 hỏi H2: “Anh cho bọn em chơi ở đây luôn nhé”, H2 đồng ý. Quá trình Chu Minh H2 bán ma túy cho H1 và cho H1, H sử dụng ma túy tại nhà H2 thì Nông Văn M có mặt và nhìn thấy, nghe thấy, chứng kiến toàn bộ sự việc.

Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt người làm chứng Đồng Phúc H trìn bày: Khoảng 10 giờ ngày 25/7/2024, H đi cùng Mạc Thiêm H1 đến nhà Chu Minh H2 hỏi H2 mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000đ và sử dụng tại nhà H2, khi Hội mua ma túy và khi H cùng H1 sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì có Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy và chứng kiến toàn bộ sự việc. Ngoài ra, khoảng 11 giờ 50 phút ngày 26/7/2024, Đồng Phúc H một mình vào nhà hỏi H2 bán ma túy cho H với số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), H2 đồng ý cầm tiền rồi đưa lại cho H 02 (hai) gói ma túy, sau khi mua được ma túy H hỏi H2: “Anh cho em chơi ở đây được không, chứ về đi đường sợ lắm”, H2 đồng ý. Quá trình mua bán ma túy với H và cho H sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì có Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy và chứng kiến toàn bộ sự việc.

Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt người làm chứng Đặng Văn T trình bày: Khoảng 07 giờ ngày 04/8/2024, Chu Minh H2 cùng Nông Văn M đang ngồi trên chiếc giường trong phòng khách thì Đặng Văn T vào nhà H2, ngồi tại bàn uống nước và hỏi: “Có không để cho em một ít, H2 đồng ý cầm tiền rồi đưa cho T 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy thì T hỏi: “Em chơi luôn ở đây được không”, H2 đồng ý, T lấy xilanh trong người ra, lấy chiếc chén uống nước ở trên bàn và lấy một ít nước lọc trong một bình nước lọc rồi pha với ma túy để sử dụng tại nhà của Chu Minh H2. Quá trình mua bán ma túy với T và cho T sử dụng ma túy tại nhà của H2 thì có Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy và chứng kiến toàn bộ sự việc.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Nông Văn M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Nông Văn M nhìn thấy, nghe thấy, chứng kiến việc H2 bán trái phép chất ma túy cho Mạc Thiêm H1, Đồng Phúc H, Đặng Văn T và cho H1, H, T sử dụng ma túy tại nhà của H2. Bị cáo M xin Hội đồng xét xử (HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên

bố: Nông Văn M phạm tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật hình sự đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2.......".

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Người làm chứng anh Mạc Thiêm H1, anh Đồng Phúc H và anh Đặng Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của anh H1, anh H và anh T trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc anh H1, anh H và anh tiến vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Nông Văn M đã trực tiếp nhìn thấy Chu Minh H2 bán trái phép chất ma túy cho Mạc Thiêm H1, Đồng Phúc H và Đặng Văn T và cho H1, H, T sử dụng ma túy tại nhà của H2 nhưng không báo cho các cơ quan có thẩm quyền biết để xử lý theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội. Bị cáo biết việc Chu Minh H2 bán trái phép chất mà túy và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không thực hiện nghĩa vụ của người công dân là tố giác tội phạm. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự,

nhận thức rõ hành vi không tố giác tội phạm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; bị cáo với Chu Minh H2 không có quan hệ họ hàng, giữa bị cáo và Chu Minh H2 chỉ là người quen biết; bị cáo biết hành vi của H2 là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không có hành động can ngăn hoặc hạn chế hành vi vi phạm của H2. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” được quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát

Xét thấy Cáo trạng số 04/CT-VKSBT ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Văn M về tội “Không tố giác tội phạm” theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 (một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 (hai) lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Các vấn đề khác

  • - Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy của Chu Minh H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Chu Minh H2; tuy nhiên, Chu Minh H2 đã chết nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông đã ban hành quyết định đình chỉ vụ án tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự đối với Chu Minh H2, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
  • Đối với hai người đàn ông đã bán ma túy cho Chu Minh H2 vào ngày 25/7/2024 và ngày 05/8/2024 tại tổ B, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; do H2 không biết họ tên, địa chỉ người này và cũng không quen biết, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
  • - Đối với người đàn ông cho Chu Minh H2 đi nhờ xe từ ngã ba H đến thành phố B và người đàn ông làm xe ôm đưa H2 đi từ thành phố B về nhà H2 ngày 05/8/2024. Do H2 không biết họ tên, địa chỉ hai người này và cũng không quen biết, Cơ quan cảnhsát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mạc Thiêm H1, Đồng Phúc H, Đặng Văn T, Phùng Văn K và Nông Văn M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển toàn bộ tài liệu đến Công an xã V, Công an thị trấn P, Công an xã N và Công an xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để xem xét giải quyết theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 390, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

  1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội "Không tố giác tội phạm".
  2. Xử phạt bị cáo Nông Văn M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND huyện Bạch Thông (1);
  • - Viện KSND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Phòng HSNV CAT (Số 12, đường Trường Chinh, TP Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn);
  • - Bị cáo (1);
  • - Thi hành án DS huyện Bạch Thông (1);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hương Thành

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN về hình sự (không tố giác tội phạm)

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Không tố giác tội phạm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 390, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nông Văn Mầm phạm tội "Không tố giác tội phạm". Xử phạt bị cáo Nông Văn Mầm 12 (mười hai) tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger