Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Đức Nam

Ông Bùi Đắc Tuyền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thế T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế B và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Phạm Thị T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2024; có mặt.
  2. Phạm Thị T2, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4; có chồng là Nguyễn Thế T và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án,

tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/9/2024; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Phạm Tuấn T5; vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 01 năm 2024, do có nhu cầu buôn bán thuốc lá điện tử để kiếm lời nên Phạm Thị T2 và chồng là Nguyễn Thế T cùng nhau lên mạng xã hội Facebook, Z để tìm mua thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử. Phạm Thị T2 sử dụng tài khoản Facebook có tên “Phạm T2” liên hệ đến tài khoản Facebook có tên “Nhi T6” và “QB Pob” (không xác định được nhân thân, lai lịch) để đặt mua thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử. Sau khi Phạm Thị T2 thỏa thuận đặt mua xong, người bán thuốc lá điện tử, tinh dầu thuốc lá điện tử có tên tài khoản Facebook là “Nhi T6” và “QB Pob” sẽ gửi hàng về địa chỉ ngõ C đường T, tổ I, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng cho Phạm Thị T2. Khi nào nhận được hàng hóa thì Phạm Thị T2 mới thanh toán tiền cho người bán bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của Phạm Thị T2 số 19032665475026 mở tại Ngân hàng T8 đến số tài khoản ngân hàng do người bán gửi. Do mỗi lần thanh toán tiền, người bán thuốc lá điện tử, tinh dầu cho Phạm Thị T2 đều gửi một số tài khoản khác nhau nên Phạm Thị T2 không nhớ đã chuyển tiền cho người bán thuốc lá điện tử, tinh dầu vào số tài khoản nào, thanh toán bao nhiêu tiền. Khi nhận được thuốc lá điện tử, tinh dầu thuốc lá điện tử, Phạm Thị T2 cùng Nguyễn Thế T sẽ đăng bán các sản phẩm thuốc lá điện tử, tinh dầu thuốc lá điện tử lên nhóm mạng xã hội Z có tên tài khoản “Thành Luxury Sỉ P” do Nguyễn Thế Thành L. Người nào có nhu cầu mua thuốc lá điện tử, tinh dầu thuốc lá điện tử thì sẽ liên hệ qua cuộc gọi zalo và đến địa chỉ nhà tại ngõ C đường T, tổ I, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng để mua trực tiếp. Sau khi mua xong, người mua hàng thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền đến số tài khoản cá nhân của Phạm Thị T2 số 19032665475026 mở Ngân hàng T8. Từ đầu tháng 01/2024 đến ngày 16/01/2024, Phạm Thị T2 và Nguyễn Thế T đã thu lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng từ việc buôn bán thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Nguyễn Thế T điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ4-505.62 ra đầu ngõ C đường T, tổ I, phường H, quận D để nhận hàng thuốc lá điện tử và tinh dầu thuốc lá điện tử từ một người đàn ông giao hàng không quen biết chuyển đến, sau khi nhận hàng xong Nguyễn Thế T cho lên xe máy điện chở về nhà thì bị Công an quận D kiểm tra, phát hiện thu giữ của

Nguyễn Thế T 240 thiết bị thuốc lá điện tử (ký hiệu M26), 01 xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ4-505.62 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03S màu đen, đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 tại ngõ C đường T, tổ I, phường H, quận D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã thu giữ:

  • + 45 (bốn mươi lăm) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ GOTEK X (ký hiệu M1).
  • + 28 (hai mươi tám) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ XLIM (ký hiệu M2).
  • + 18 (mười tám) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ XLIM SQ PRO (ký hiệu M3).
  • + 25 (hai mươi lăm) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ CYMLX NEREUS (ký hiệu M4).
  • + 02 (hai) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ APRIRE RIILX (ký hiệu M5).
  • + 05 (năm) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ OLD SCHOOL (ký hiệu M6)
  • + 11 (mười một) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ XLIM PRO (ký hiệu M7).
  • + 05 (năm) thiết bị máy hút thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ NINJA PRO (ký hiệu M8).
  • + 72 (bảy mươi hai) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ ATUS (ký hiệu M9).
  • + 20 (hai mươi) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ FLIX (ký hiệu M10).
  • + 50 (năm mươi) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ MEDUSA (ký hiệu M11).
  • + 10 (mười) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ PYNE POD (ký hiệu M12).
  • + 75 (bảy mươi lăm) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ LIO (ký hiệu M13).
  • + 18 (mười tám) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ BLACK PINK PRO (ký hiệu M14).
  • + 43 (bốn mươi ba) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ MIOU (ký hiệu M15).
  • + 06 (sáu) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ FUCKING CLOUDS (ký hiệu M16).
  • + 10 (mười) thuốc lá điện tử có ghi dòng chữ LUCKEE (ký hiệu M17).
  • + 217 (hai trăm mười bảy) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ SUPER ICE (ký hiệu M18).
  • + 57 (năm mươi bảy) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ HUMBLE (ký hiệu M19).
  • + 42 (bốn mươi hai) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ PRO COOL UINIQUE (ký hiệu M20).
  • + 66 (sáu mươi sáu) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ LAVIE (ký hiệu M21).
  • + 41 (bốn mươi mốt) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ MUEN (ký hiệu M22).
  • + 17 (mười bảy) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ PI (ký hiệu M23).
  • + 72 (bảy mươi hai) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ DADDY (ký hiệu M24).
  • + 08 (tám) lọ chứa tinh dầu có ghi dòng chữ USALTY (ký hiệu M25), (bút lục số 157 đến159)

Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng đã qua sử dụng của Phạm Thị T2.

Tại Kết luận giám định số 239 ngày 05/02/2024 kết luận: “Các mẫu ký hiệu từ M1 đến M8 gửi giám định đều là thiết bị máy hút thuốc lá điện tử, loại cấu tạo có buồng chứa tinh dầu, sản phẩm do nước ngoài sản xuất, trên sản phẩm không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất. Tổng số lượng máy: 139 chiếc.

Các mẫu ký hiệu từ M9 đến M17 và M26 gửi giám định đều là thuốc lá điện tử, không có chất ma túy, sản phẩm do nước ngoài sản xuất, trên các sản phẩm không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất. Tổng số lượng 544 chiếc.

Các mẫu ký hiệu từ M18 đến M25 gửi giám định đều là lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử, không có chất ma túy, do nước ngoài sản xuất, trên các sản phẩm không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất. Tổng số: 520 lọ”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận D kết luận: 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử tổng trị giá là 321.825.000 đồng.

Tại Chứng thư giám định số 363/N/082024 ngày 31/8/2024 của Công ty cổ phần G kết luận: “520 lọ chứa tinh dầu ...là nguyên liệu chỉ để sử dụng cho thiết bị máy hút thuốc lá điện tử”.

Tại Kết luận giám định số 1998 ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iPhone có số IMEI: 357260095345897, IMEI2: 357260091614973 đã qua sử dụng giữ (ký hiệu A1), kết quả: “Tìm thấy 69 cuộc hội thoại Facebook, 152 cuộc hội thoại Zalo thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết được lưu tại thư mục ‘Al' trong đĩa CD kèm theo”
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG có số IMEI1: 358452987236024, IMEI2: 359488427236025 đã qua sử dụng (Ký hiệu A2): “Tìm thấy 02 cuộc hội thoại Facebook Messenger thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết được lưu tại thư mục ‘A2’ trong đĩa kèm theo”.

Tại Văn bản số 778/SCT-QLTM ngày 13/3/2024 của Sở Công thương thành phố H trả lời: “Căn cứ Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012; Công văn số 7830/VPCP-CN ngày 26/10/2021 của Văn phòng C về việc xây dựng chính sách quản lý đối với các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới tại Việt Nam, theo đó hiện nay chưa cho phép lưu thông, sử dụng sản phẩm thuốc lá thế hệ mới trong đó có thuốc lá điện tử”.

Tiến hành xác định 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D thu giữ có được phép lưu hành, buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam hay không, kết quả: tại văn bản số 1209/SCT-QLTM ngày 12/4/2024 của Sở Công thương thành phố H trả lời: “Thuốc lá điện tử là thiết bị sử dụng pin làm nóng dung dịch điện tử (e-liquid) để tạo ra sol khí/khói cho người dùng hít vào, chứa chất tạo mùi, hòa tan trong Propylene Glycol. Theo đó, lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử được hiểu là dung dịch điện tử (e-liquid)”.

Tại Văn bản số 203/CN-TDTP ngày 03/6/2024 của Bộ C1 trả lời: “Theo Công văn số 7830/VPCP-CN ngày 26/10/2021 của Văn phòng C, Phó Thủ tưởng Lê Văn T7 có ý kiến chỉ đạo: “Trong thời gian chưa được phép lưu thông, sử dụng sản phẩm thuốc lá thế hệ mới, các Bộ: Công thương, Công an, Quốc phòng theo chức năng nhiệm vụ được giao, chỉ đạo các cơ quan liên quan, tăng cường công tác phòng chống buôn lậu các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.

Ngày 29/10/2024, bị can Nguyễn Thế T đã nộp số tiền 5.000.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính do hành vi buôn bán thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử mà có

Về vật chứng: Đối với 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử còn lại sau giám định; 8 cùng số tiền 5.000.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh quản lý. Đối với 01 xe máy điện biển kiểm soát: 15MĐ4-505.62 qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1 (là mẹ đẻ của Nguyễn Thế T). Bà T1 không biết vào ngày 16/01/2024, Nguyễn Thế T sử dụng xe làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điện tử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại chiếc xe máy điện cho bà T1.

Trong vụ án còn có Phạm Tuấn T5 và Nguyễn Thị N cùng trú tại: tổ I, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng là anh em họ với Phạm Thị T2. Quá trình bán thuốc lá điện tử và tinh dầu thuốc lá điện tử có vài lần Phạm Thị T2 nhờ T5 và N đóng gói thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử để giao cho khách. Tuy nhiên T5 và N không được Phạm Thị T2 trả công hay chia lợi nhuận và cũng không nhớ được số lượng thuốc lá điện tử, tinh dầu thuốc lá điện tử mà T5 và N đã đóng gói cho Phạm Thị T2 là bao nhiêu nên không có căn cứ xử lý Phạm Tuấn T5 và Nguyễn Thị N đồng phạm với Phạm Thị T2, Nguyễn Thế T về hành vi buôn bán hàng cấm.

Đối với những người bán và người mua thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng thuốc lá điện tử với các bị cáo, đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với người đàn ông giao hàng cho bị cáo Nguyễn Thế T vào ngày 16/01/2024 chưa xác định được căn cước lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D, các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị Thành Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 190, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 với mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử còn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đồng thu lời bất chính các bị cáo đã nộp và 02 điện thoại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03S màu đen, 01 điện thoại iPhone Xs max màu vàng là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các biên bản làm việc, biên bản khám xét; Kết luận định giá, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ đầu tháng 01/2024 với mục đích có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 đã tìm và mua một số lượng lớn thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử của các đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán lại kiếm lời. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại tổ I, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 bị kiểm tra, phát hiện thu giữ 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu

sử dụng cho thuốc lá điện tử. Tại Kết luận giám định số 239 ngày 05/02/2024 kết luận các thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử là sản phẩm do nước ngoài sản xuất, trên các sản phẩm không dán tem nhập khẩu, không đủ căn cứ xác định cụ thể là do nước nào sản xuất. Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận D kết luận: 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử tổng trị giá là 321.825.000 đồng. Như vậy các bị cáo đã có hành vi mua bán kiếm lời đối với các thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử là sản phẩm do nước ngoài sản xuất, không có tem kiểm định, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp là hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam với trị giá là 321.825.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nên khi quyết định hình phạt cần căn cứ vai trò, tính chất, mức độ tham gia phạm tội của các bị cáo để cá thể hóa trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, tuy các bị cáo thực hiện hành vi một cách giản đơn nhưng các bị cáo có sự thống nhất ý chí, cùng nhau thực hiện hành vi; bị cáo Phạm Thị T2 tìm nguồn hàng, thực hiện hành vi đặt hàng qua mạng xã hội, khi có khách là người giao dịch bán hàng; bị cáo Nguyễn Thế T đi lấy hàng, giao hàng và cả hai bị cáo đều thực hiện hành vi đăng trên trên mạng xã hội để bán. Vì vậy, bị cáo Phạm Thị T2 có vai trò cao hơn bị cáo Nguyễn Thế T trong vụ án nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo Phạm Thị T2 cao hơn đối với bị cáo Nguyễn Thế T.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, việc hành vi buôn bán thuốc lá điện tử và tinh dầu thuốc lá điện tử khi chưa được phép lưu hành tại Việt Nam đã xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của cơ quan chức năng trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và thương mại, gây khó khăn cho công tác kiểm soát thị trường, bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh. Hành vi

kinh doanh các mặt hàng chưa rõ nguồn gốc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng, làm gia tăng nguy cơ sử dụng các sản phẩm độc hại chưa qua kiểm định. Đồng thời, việc buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, là nguyên nhân gây ra những thiệt hại về sức khỏe, tài sản của người dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung; đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận D đang quản lý 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử còn lại sau giám định. Xét thấy, số vật chứng trên liên quan đến việc phạm tội, đến thời điểm xét xử là vật cấm lưu hành; nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03S màu đen, đã qua sử dụng, 01 điện thoại iPhone Xs max màu vàng là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 5.000.000đồng là tiền thu lợi bất chính do hành vi buôn bán thuốc lá điện tử, tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 xe máy điện biển kiểm soát: 15MĐ4-505.62 qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1, bà T1 không biết việc Nguyễn Thế T sử dụng xe làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điện tử, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại chiếc xe máy điện cho bà T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 190; Điều 17, Điều 58 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị Thành Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Thị T2 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Thế T và Phạm Thị T2 cho UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 683 thiết bị máy hút thuốc lá điện tử và 520 lọ chứa tinh dầu sử dụng cho thuốc lá điện tử còn lại sau giám định, cụ thể:
  • + 01 thùng giấy, dấu niêm phong số: 239HH-T1/PC09 bên trong có: 40 chiếc của mẫu M1; 25 chiếc của mẫu M2; 15 chiếc của mẫu M3; 22 chiếc của mẫu M4; 03 chiếc của mẫu M6; 09 chiếc của mẫu M7; 03 chiếc của mẫu M8 được niêm phong lại trong;
  • + 01 thùng giấy, dấu niêm phong số: 239HH-T2/PC09 bên trong có: 65 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M9; 17 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M10; 45 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M11; 06 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M12; 68 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M13; 15 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M14; 38 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M15; 04 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M16; 08 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M17; 197 lọ tinh dầu của mẫu M18; 47 lọ tinh dầu của mẫu M19; 37 lọ tinh dầu của mẫu M20; 59 lọ tinh dầu của mẫu M21; 36 lọ tinh dầu của mẫu M22; 14 lọ tinh dầu của mẫu M23; 65 lọ tinh dầu của mẫu M24 và 06 lọ tinh dầu của mẫu M25;
  • + 01 thùng giấy, dấu niêm phong số: 239HH-T3/PC09 bên trong có: 210 chiếc thuốc lá điện tử của mẫu M26;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung A03S màu đen, 01 điện thoại iPhone Xs max màu vàng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng)

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000đồng thu lợi bất chính do các bị cáo giao nộp đang được quản lý tại cơ quan thi hành án dân sự quận D Ủy nhiệm chi số 03/KB ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Kho bạc Nhà nước D, Biên lai thu tiền chuyển khoản số 0005326 ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa Công an quận D và Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra CA TP Hải Phòng;
  • - PV06; PC 10;
  • - Chi cục THADS quận Dương Kinh;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú,
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm THế T, Nguyễn Thị T - Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger