Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Hùng

Bà Nguyễn Thị Quý

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Quảng Thanh H, sinh năm 1984, tại Bình Phước; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quảng Văn S và bà Phạm Thị L; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2022;

Tiền án: 01 tiền án: Ngày 18/10/2008 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến ngày 13/11/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm và xử phạt 06 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa đóng án phí.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 24/01/2024, Quảng Thanh H đi bộ qua lô cao su ở thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước thì gặp Nguyễn Duy C (là bạn của H cùng ở thôn A) đang sử dụng trái phép chất ma túy thì C rủ H cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong ma túy, C rủ H đi đến huyện B, tỉnh Bình Phước chơi thì H đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển số 93P1-755.18 chở H đi đến lỗ cao su thuộc huyện B thì dừng xe lại (H không xác định được địa chỉ cụ thể), C xuống xe và nói H đứng đợi để C đi lấy pháo; lúc này H biết C đi đến huyện B là để vận chuyển pháo. C đi gom pháo ở nhiều vị trí khác nhau trong lô cao su rồi cho vào 02 bao tải và 01ba lô màu đen; sau đó C để tất cả pháo lên xe mô tô, H ngồi ở phía sau để C điều khiển xe chở về xã L, huyện P. C điều khiển xe mô tô đi được một đoạn thì dừng lại và nói H chở giúp pháo về xã L, huyện P sẽ có người đến nhận pháo thì H đồng ý. Sau đó, C đi bộ vào lô cao su, còn H điều khiển xe mô tô biển số 93P1-755.18 vận chuyển pháo về xã L, huyện P. Khi H vận chuyển pháo đến đoạn đường ĐT759 thuộc địa phận huyện B, tỉnh Bình Phước, lúc này khoảng 02 giờ ngày 25/01/2024 thì phát hiện lực lượng Công an đang đi tuần tra, H liền điều kiển xe mô tô bỏ chạy thì bị lực lượng Công an truy đuổi. Khi H điều khiển xe mô tô chở pháo bỏ chạy đến khu vực thôn B, xã P, huyện B thì đâm vào tường rào bên đường làm H và xe mô tô ngã ra đường, H bất tỉnh và được đưa đến Trung tâm y tế huyện B cấp cứu và điều trị thương tích. Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B kết hợp với Công an xã P khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng gồm: 02 bao tải màu đen; 01 ba lô màu đen; 31 khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn được kết nối với nhau thành dàn, bên ngoài nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài; 02 khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối có 138 ống hình trụ tròn được kết nối với nhau thành dàn, bên ngoài nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài (sau khi thu giữ đã niêm phong để phục vụ việc giám định); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh đen, biển số: 93P1- 755.18.

Ngày 01/9/2024, Quảng Thanh H đến Công an xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận giám định số 936 ngày 07/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu ký hiệu là M1, M2, M3-1, M3-2 được niêm phong trong 03 thùng giấy gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu. Tổng khối lượng lần lượt là: M1= 4,8 kg (bốn phẩy tám ki lô gam); M2= 51,60 kg (năm mốt phẩy sáu ki lô gam); M3-1= 17,0 kg (mười bảy ki lô gam); M3-2= 14,50 kg (mười bốn phẩy năm ki lô gam). Tổng khối lượng pháo hoàn lại sau giám định 62,6kg.

Bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Quảng Thanh H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 62,6kg pháo nổ hoàn lại sau giám định, 02 bao tải màu đen và 01 ba lô màu đen; ngày 17/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh đen, biển số: 93P1- 755.18 mà Quảng Thanh H sử dùng làm phương tiện vận chuyển pháo nổ. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe này, do đó chuyển lại cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quảng Thanh H đã khai nhận bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi “vận chuyển hàng cấm” là pháo nổ theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can phù hợp về thời gian địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do cả nể vì Nguyễn Duy C cho sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 25/01/2024, Quảng Thanh H đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter biển số: 93P1-755.18 vận chuyển 87,95 kg pháo nổ cho C từ huyện B, tỉnh Bình Phước đến xã L, huyện P. Khi H vận chuyển pháo nổ đến đoạn đường ĐT 759 thuộc địa phận huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện truy đuổi; H điều khiển xe bỏ chạy đến thôn B, xã P, huyện B thì xe mô tô do H điều khiển đâm vào tường rào của hộ dân ven đường làm cho xe mô tô và H ngã ra đường. Cùng ngày Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường và thu giữ toàn bộ tang vật.

Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo so với những quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, nhất là pháo nổ Nhà nước đã cấm, bị cáo cũng biết được pháo nổ là hàng cấm, nhưng cả nể bạn bè vì bạn cho sử dụng ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo là người đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, Hội đồng xét xử xét bị cáo thu nhập thấp, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với Nguyễn Duy C hiện không có mặt tại địa phượng do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện B chưa làm việc được với C, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau đối với C.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 62,6kg pháo nổ hoàn lại sau giám định, 02 bao tải màu đen và 01 ba lô màu đen; ngày 17/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiêu hủy theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh đen, biển số: 93P1- 755.18 mà Quảng Thanh H sử dụng làm phương tiện vận chuyển pháo nổ. Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe này, do đó chuyển lại cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Quảng Thanh H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
  2. Xử phạt bị cáo Quảng Thanh H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01/9/2024.
  3. Quyết định tạm giam bị cáo Quảng Thanh H để đảm bảo thi hành án.

  4. Về án phí: Bị cáo Quảng Thanh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm về tội vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger