|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 10-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Mạnh Quyết
- Ông Phạm Quốc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/HSST ngày 29/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Phước Đ, (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam; Sinh năm 1985; Chỗ ở hiện nay: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không. Cha: Trần Phước T, sinh năm 1960; Mẹ: Lê Thị Hải V, sinh năm 1962; Vợ: Thái Thị Kim D, sinh năm 1984; Có 02 người con: lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/11/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo bản án số 182/HSST. Đến ngày 30/9/2015 thì chấp hành xong (Đã xóa án tích).
Ngày 17/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do nghiện ma túy, thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 16/QĐ-TA. Đến ngày 02/8/2021 thì chấp hành xong (Đã hết thời hạn quản lý sau cai nghiện).
Ngày 30/6/2006, UBND xã N ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã do có hành vi vi phạm “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 10/10/2006, UBND tỉnh L ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 12 tháng do có hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 16/3/2008, Công an xã N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt “Cảnh cáo” về hành vi Trộm cắp vặt.
Ngày 02/4/2014, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
Bị tạm giữ từ ngày 31/3/2024 đến 09/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trà Thị Huyền T1, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Bà Trà Thị Huyền T2, sinh năm 2003. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
- Ông Võ Hồng T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
- Bà Huỳnh Thị Thúy Q, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình T4, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp C xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phước Đ là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 21 giờ ngày 30/3/2024, Đ cùng với Trà Thị Huyền T1 về nhà của Đ ở ấp E, xã N, huyện T chơi. Tại đây, Đ dẫn T1 vào phòng khách (có gắn thiết bị âm thanh, ánh sáng mạnh) rồi Đ lấy 01 túi nylon trong suốt, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine (khay) đổ vào một đĩa sành màu trắng, lấy ống hút tự chế và thẻ nhựa để pha trộn ma túy rồi mời T1 sử dụng ma túy cùng với Đ. Do lúc này trong phòng chỉ có 02 người nên T1 sợ, không dám sử dụng nên T1 có gọi điện thoại kêu Trà Thị Huyền T2 là em ruột T1 đến nhà Đ rước T1 về. T2 không dám đi một mình nên rủ Võ Hồng T3 cùng đến nhà Đ để rước T1. Khi đến nơi, T2 và T3 thấy có 01 đĩa đựng ma túy loại khay và dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn trên bàn. Sau đó, Đ rủ T1, T2 và T3 cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 02 giờ ngày 31/3/2024, biết T3 đang ở nhà Đ, đêm khuya chưa thấy về nên bạn gái của T3 là Huỳnh Thị Thúy Q đến nhà Đ. Tại đây, Đ rủ Q cùng sử dụng ma túy với T2, T1 và T3. Đến khoảng 8 giờ cùng ngày thì T1, T2 và Q thuê xe taxi về phòng trọ tại Phường F, thành phố T. Lúc này, chỉ còn Đ và T3 ở phòng, số ma túy sử dụng còn lại vẫn còn trên đĩa. Khoảng 14 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện T phối hợp Công an xã N đến nhà mời Trần Phước Đ làm việc vì nghi vấn Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, lực lượng Công an phát hiện trong nhà có Trần Phước Đ, Võ Hồng T3 và Nguyễn Đình T4, là người giúp việc nhà Đ. Trên bàn, bên trong phòng khách phát hiện có 01 đĩa bằng sứ hình tròn màu trắng, bên trên có chứa tinh thể màu trắng là ma túy (khối lượng 0,2693 gam, loại Ketamine) cùng 01 ống hút tự chế và 01 thẻ nhựa màu trắng - xanh (loại thẻ sim điện thoại). Trên thùng loa đặt phía góc phòng phát hiện, thu giữ 01 túi nylon có rãnh khép viền đỏ, bên trong có: 03 (ba) viên nén màu vàng và ½ viên nén màu vàng là ma túy (khối lượng: 1,6359 gam, loại Methamphetamine).
Tại kết luận giám định số 212/2024/KLGĐ ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- Bì thư M1: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2693 gam, loại Ketamine.
- Bì thư M2: 03 (ba) viên nén màu vàng và một phần viên nén màu vàng đựng trong túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,6359 gam, loại Methamphetamine.
- Bì thư M3: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,4546 gam, loại: Ketamine.
- Bì thư M4: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền màu đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0866 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép và 01 (một) hộp nhựa màu trắng có in hình trái tim ghi chữ ”Wiesn Pulver” được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,7524 gam, loại Ketamine.
Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Trần Phước Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,” Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa trong phần luận tội đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Áp dụng Điều 38; Điều 50, điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 02 năm 6 tháng đến 3 năm tù.
Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Áp dụng điều 38; Điều 50, điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 7 năm đến 8 năm tù.
Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt cho hai tội đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 9 năm 6 tháng tù đến 11 năm tù
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 212 ngày 09/4/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T5 và người chứng kiến Phạm Thị Thanh T6 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L. Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định chất ma túy có khối lượng: 0,1900 gam (bì thư M1); 0,9423 gam (bì thư M2); 2,2704 gam (bì thư M3); 0,0621 gam và 1,5744 gam (bì thư M4).
Một đĩa bằng sứ hình tròn màu trắng; 01 ống hút tự chế; 01 thẻ nhựa màu trắng - xanh (loại thẻ sim điện thoại); 02 (hai) ống thủy tinh trong suốt; 03 ống hút nhựa màu trắng. Đây là dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận và bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tạm giữ đồ vật đồng thời còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở khẳng định: Vào đêm ngày 30, rạng sáng ngày 31/3/2024, Trần Phước Đ có hành vi cung cấp ma túy loại Khay (Ketamine), chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy và sử dụng địa điểm là phòng khách của gia đình rồi cùng Trà Thị Huyền T1, Trà Thị Huyền T2, Võ Hồng T3, Huỳnh Thị Thúy Q sử dụng trái phép chất ma túy. Kết luận giám định khối lượng chất ma túy còn lại trên đĩa sành (dụng cụ đựng ma túy) là 0,2693 gam, loại Ketamine. Ngoài ra, Đ còn có hành vi tàng trữ 4,207 gam ma túy loại Ketamine và 1,7225 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là mầm mống để phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa bị cáo không thành khẩn khai báo do đó cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
[4]. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo Đ đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó,đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói niêm phong số 212 ngày 09/4/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T5 và người chứng kiến Phạm Thị Thanh T6 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L. Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định chất ma túy có khối lượng: 0,1900 gam (bì thư M1); 0,9423 gam (bì thư M2); 2,2704 gam (bì thư M3); 0,0621 gam và 1,5744 gam (bì thư M4).
Một đĩa bằng sứ hình tròn màu trắng; 01 ống hút tự chế; 01 thẻ nhựa màu trắng - xanh (loại thẻ sim điện thoại); 02 (hai) ống thủy tinh trong suốt; 03 ống hút nhựa màu trắng. Đây là dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy 01 (một) Gói niêm phong số 212, ngày 09/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, có chữ ký của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T5 và người chứng kiến Phạm Thị Thanh Tó nêu trên là chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Phước Đ do không xác định rõ nhân thân lai lịch, đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
[7]. Đối với Võ Hồng T3, Trà Thị Huyền T1, Trà Thị Huyền T2, Huỳnh Thị Thúy Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào đêm 30 rạng sáng ngày 31/3/2024 cùng với Trần Phước Đ. Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người là 1.500.000 đồng.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Trần Phước Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Áp dụng Điều 38; Điều 50, điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ 3 (ba) năm tù
Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Áp dụng điều 38; Điều 50, điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 7 (bảy) năm tù.
Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt cho hai tội xử phạt bị cáo Đ 10 (mười) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 31/3/2024
Áp dụng điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. 01 (một) gói niêm phong số 212 ngày 09/4/2024, có chữ ký, ghi rõ họ tên của người niêm phong Nguyễn Công Bảo T5 và người chứng kiến Phạm Thị Thanh T6 và hình dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L. Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định chất ma túy có khối lượng: 0,1900 gam (bì thư M1); 0,9423 gam (bì thư M2); 2,2704 gam (bì thư M3); 0,0621 gam và 1,5744 gam (bì thư M4).
Một đĩa bằng sứ hình tròn màu trắng; 01 ống hút tự chế; 01 thẻ nhựa màu trắng - xanh (loại thẻ sim điện thoại); 02 (hai) ống thủy tinh trong suốt, 03 ống hút nhựa màu trắng. Đây là dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Tất cả vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 48/QĐ-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tơ |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Phươc Đ "tàng trữ trái phép chất ma túy" "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
