TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-3-2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng
Ông Đào Văn Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1971. Quốc tịch: Việt Nam.
Hộ chiếu số: C0451966 do Cục Q cấp ngày 01/6/2015.
Địa chỉ: A Brookview CT M, Hoa Kỳ.
Địa chỉ tạm trú: B2-21 Khu đô thị L, phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền đối với phần tranh chấp nuôi con: Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P - Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ D, thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ hiện nay: 1215 Brookview CT M, Hoa Kỳ.
Tại phiên tòa, có mặt bà Phạm Thị Thanh T1. Vắng mặt ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Ông T và bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Thanh T trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, ông và bà Nguyễn Thị Mỹ L tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2017 ngày 28/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Long An.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, ông và bà Nguyễn Thị Mỹ L sống chung với nhau một thời gian ngắn. Sau một thời gian, ông xuất cảnh qua Hoa Kỳ để làm việc, còn bà L vẫn sinh sống và làm việc ở Việt Nam. Tuy ở nước ngoài nhưng ông có thỉnh thoảng liên lạc với L qua điện thoại. Có lần về Việt Nam, ông về Bình Thuận để gặp bà L.
Vào năm 2020, ông bà sinh con gái tên Trần Kim N, sinh ngày 15/8/2020 tại Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Nam, tỉnh Bình Thuận. Từ khi sinh ra cho đến nay cháu N đều do mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi sinh con chung, giữa ông và L phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Ông nhận thấy tính cách quá khác biệt nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung, cả hai đã không liên lạc với nhau và sống ly thân từ cuối năm 2022.
Nay tình cảm vợ chồng đã thật sự không còn, phát sinh quá nhiều mâu thuẫn nên không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung với nhau. Mặt khác, do khoảng cách về địa lý quá xa xôi khiến ông không thể về Việt Nam thường xuyên nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn vui vẻ và hạnh phúc như trước. Ông nhận thấy, giữa ông và bà Nguyễn Thị Mỹ L nếu có cố gắng tiếp tục chung sống với nhau thì cũng không thể đạt được hạnh phúc.
Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bàNguyễn Thị Mỹ L1.
Về con chung: Có một con chung tên là Trần Kim N (sinh ngày: 15/8/2020; giới tính: Nữ). Khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết: Giao con chung tên Trần Kim N cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ông sẽ cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tới khi con trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự và Bản tự khai cùng ngày 06/02/2025, ông Trần Thanh T xin rút yêu cầu liên quan đến vấn đề cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tại Bản tự khai và đề nghị giải quyết vắng mặt tại Tòa án (được T2 tại S hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/12/2024) bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:
3
Sau thời gian tìm hiểu, thì bà và ông Trần Thanh T tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2017 ngày 28/4/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Long An.
Thời gian đầu sau khi kết hôn, bà và ông T sống chung với nhau một thời gian ngắn. Sau một thời gian, ông T xuất cảnh qua Hoa Kỳ để làm việc, còn bà vẫn sinh sống và làm việc ở Việt Nam. Tuy ở nước ngoài nhưng ông T có thỉnh thoảng liên lạc với bà qua điện thoại. Có lần về Việt Nam, ông T có về Bình Thuận để gặp bà.
Vào năm 2020, ông bà sinh con gái tên Trần Kim N, sinh ngày 15/08/2020 tại Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Nam, tỉnh Bình Thuận. Từ khi sinh ra cho đến nay cháu N đều do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi sinh con chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, không còn quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Do tính cách quá khác biệt nhau nên thời gian chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung nên đã không liên lạc với nhau và sống ly thân từ cuối năm 2022.
Năm 2024 ông T có làm thủ tục ly hôn với bà tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, trong thời gian Tòa án đang giải quyết bà đã hoàn tất thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ và ngày 10/8/2024 bà đã bay sang Hoa Kỳ. Hiện nay bà ở địa chỉ: A B, M, GA C, Hoa Kỳ.
Nay tình cảm vợ chồng đã thật sự không còn, phát sinh quá nhiều mâu thuẫn nên không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống chung với nhau. Nếu có cố gắng tiếp tục chung sống với nhau thì cũng không thể đạt được hạnh phúc. Bà đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của ông T.
Về con chung: Có một con chung tên Trần Kim N sinh ngày 15/8/2020. Khi ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết giao con cho bà tiếp tục nuôi dưỡng, ông Trần Thanh T không đồng ý cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do khoảng cách về địa lý quá xa nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Việt Nam không tiến hành hòa giải và cho phép bà được vắng mặt. Bà cam đoan sẽ không khiếu nại gì về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết vắng mặt bà.
Đồng thời bà ủy quyền cho bà Lê Hồ Thúy V thay mặt bà nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 51,
4
khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, ông Trần Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ L.
- Giao con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 15/08/2020 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Mỹ L có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L theo quy định tại khoản 4 Điều 207, điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thanh T và bà Nguyễn Thị Mỹ L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Long An vào ngày 28/4/2017. Theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Tuy nhiên, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian ngắn thì ông T xuất cảnh sang Hoa Kỳ. Theo ông Trần Thanh T, do vợ chồng sống xa cách nhau nên tình cảm không còn, không tìm được tiếng nói chung nên ông làm đơn yêu cầu được ly hôn đối với bà L. Tại Bản tự khai được Hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/12/2024, bà Nguyễn Thị Mỹ L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.
[4] Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa hai bên không thể hàn gắn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Thanh T như ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp.
[5] Về con chung: Ông T và bà L thống nhất trình bày cả hai người có một người con chung là cháu Trần Kim N, sinh ngày 15/8/2020, hiện đang sống với bà L tại A B, M, GA C, Hoa Kỳ. Từ thời điểm ông T sang Hoa Kỳ sinh sống, làm việc thì bà L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến nay. Cháu N còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ và ông T cũng đồng ý việc tiếp tục để cháu N cho bà L chăm sóc. Do đó, giao cháu Trần Kim N sinh ngày 15/8/2020 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
5
Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện ban đầu, ông T đề nghị sẽ cấp dưỡng cho cháu N. Quá trình làm việc tại Tòa án thì ông T rút yêu cầu này và hơn nữa bị đơn bà L cũng không có ý kiến gì về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông T sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, nếu các bên tranh chấp về vấn đề này thì có thể khởi kiện giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Theo nguyên đơn và bị đơn khai thì vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Về án phí: Ông Trần Thanh T là nguyên đơn nên phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 82, 83, khoản 2 Điều 123; khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thanh T được ly hôn bà Nguyễn Thị Mỹ L.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Kim N sinh ngày 15/8/2020. Ông Trần Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Ông Trần Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tiền số 0000403 ngày 30/9/2024. Ông Trần Thanh T đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Thanh T, bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
