Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HSST

Ngày: 05/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Thành
  2. Ông Nguyễn Văn Hiến

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên toà: Ông Trình Ngọc Tài - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/HSST ngày 10 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QÐST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thị Diệu T, (giới tính: Nữ) sinh ngày 03/11/2004. Tại thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nội trợ; CCCD: 05430400211 cấp ngày 22/4/2021; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Lê Tùng N, sinh năm 1987 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1986; Con: 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt

* Bị hại:

  • + Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1989.
  • + Ông Trần H1, sinh năm 1988.

Cùng trú tại: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đình T2, sinh năm 2002, trú tại: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, Lê Đình T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77H1-7254 (xe của H1) chở Lê Thị Diệu T và Lê Hữu K (con ruột của T) đến tiệm tạp hoá của vợ chồng chị Lê Thị Hồng H và anh Trần H1 ở thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên để mua một số đồ dùng. Đến nơi T2 vào tiệm T3 để mua đồ còn T đứng bên ngoài chờ. Lúc này T thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max của H và H1 đang để trên thùng sốp phía trước quán nên T lén lút lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo khoác. Sau đó, T được T2 chở đến thôn D, xã X, thị xã S để ăn uống cùng một số người khác. Đến khoảng 01 giờ ngày 14/5/2024, T2 chở T và cháu K đến nhà nghỉ N1 tại thôn H, xã X, thị xã S. Tại đây, T nói cho T2 biết việc T lấy trộm chiếc điện thoại và T2 yêu cầu Tánh trả lại điện thoại cho bị hại. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi làm việc với Cơ quan công an T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã S kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max đã qua sử dụng có giá trị là 18.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại.
  • - 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 đoạn video (kèm theo hồ sơ vụ án).

Phần dân sự: Bị hại đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKSSC ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Lê Thị Diệu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khẳng định bản Cáo trạng số 09/CT-VKSSC ngày 10 tháng 2 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng tội nên giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Diệu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị Diệu T không có nghề nghiệp ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xét.

Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đề nghị HĐXX không xét
  • - 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 đoạn video (kèm theo hồ sơ vụ án). Đề nghị HĐXX tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Đối với Lê Đình T2: Không bàn bạc thống nhất với Lê Thị Diệu T để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không vi phạm pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Diệu T khai: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo, Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng, không oan gì cho bị cáo, sau khi trộm cắp được điện thoại bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật và tìm cách trả lại điện thoại cho bị hại nhưng do đêm khuya nên để sáng ngày hôm sau đi trả lại điện thoại cho bị hại, bị cáo đã giao nộp lại điện thoại trộm cắp cho Cơ quan điều tra để trả lại cho bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải việc bị cáo đã làm, xin hứa sau này không dám vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Quá trình điều tra đã có lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan việc vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Bị cáo Lê Thị Diệu T có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo Lê Thị Diệu T biết rõ trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm

pháp luật, sẽ bị xử lý theo quy định. Nhưng vì để có điện thoại sử dụng cho mục đích cá nhân mà bị cáo đã lén lút trộm cắp điện thoại của người khác, tài sản tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Nên hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

[3] Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của người bị hại, kết luận định giá số 24/KL-HĐĐG ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S, phù hợp về không gian, thời gian, địa điểm, mà bị cáo đã chiếm đoạt tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị cáo Lê Thị Diệu T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Nên cần xử lý đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chỉ vì hoàn cảnh khó khăn không có điện thoại sử dụng để liên lạc nên bị cáo nhất thời phạm tội mà không có kế hoạch từ trước. Sau khi lấy được điện thoại bị cáo thấy hành vi của bị cáo là sai nên bị cáo tìm cách trả lại điện thoại cho bị hại, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác, có nơi cư trú rõ ràng, được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này đối với xã hội.

[5] Do đó quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSSC ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị Diệu T không có nghề nghiệp ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xét.

[8] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Nên HĐXX không xét
  • - 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 đoạn video (kèm theo hồ sơ vụ án). Nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[9] Đối với Lê Đình T2: Không bàn bạc thống nhất với Lê Thị Diệu T để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không vi phạm pháp luật là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị Diệu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • - Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự
  • - Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Diệu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Diệu T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì có thể bị Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xét.

3. Về vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD-R lưu trữ 01 đoạn video (kèm theo hồ sơ vụ án).

4. Về án phí: Bị cáo Lê Thị Diệu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

  • - TAND tỉnh Phú Yên
  • - VKSND tỉnh Phú Yên
  • - VKSND thị xã Sông Cầu
  • - Chi cục THADS TX Sông Cầu
  • - Bị cáo
  • - Những người tham gia tố tụng khác
  • - Lưu hồ sơ vụ án

Lò Nhật Chuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 10/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Diệu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger