TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày 04/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Thanh Phong.
- Ông Trần Gia Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đào Văn T, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Bà Hán Thị Minh H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cũng như các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Đào Văn T trình bày:
Ông và bà Hán Thị Minh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/4/2019 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhà riêng của ông (là tài sản chung giữa ông và vợ trước đã chết) tại Khu H, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Bà H vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ và chưa chuyển khẩu về nhà ông. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2020 bà H đã về sống tại nhà mẹ đẻ ở Khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Giữa năm 2024 ông làm đơn xin ly hôn bà H tại TAND huyện Lâm Thao, đến tháng 9/2024 ông rút đơn vì bà H nói sẽ quay lại tiếp tục chung sống với ông và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, bà H chỉ nói vậy mà không quay về sống với ông, vợ chồng vẫn sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn bà Hán Thị Minh H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết..
Phía bị đơn là bà Hán Thị Minh H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo đầy đủ thời gian tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để bà H biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nhưng bà H đều không có mặt tại Tòa án để làm việc cũng như không có bản tự khai và quan điểm về yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn T.
Tại phiên tòa ngày 04/3/2025:
Nguyên đơn ông Đào Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và xin được ly hôn bà H vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau.
Bị đơn bà Hán Thị Minh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, không có mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn T, xử cho ông Đào Văn T được ly hôn với bà Hán Thị Minh H.
Về con chung: Ông bà không có con chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là bà Hán Thị Minh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Đào Văn T vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ. Bị đơn bà Hán Thị Minh H được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đào Văn T và bà Hán Thị Minh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ ngày 18/4/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo ông T trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau và không còn quan hệ về mặt tình cảm.
Về phía bà Hán Thị Minh H, mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H để bà H thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng bà H không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bà H không có văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có bản tự khai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương thì được chính quyền địa phương và bà Trần Thị X - mẹ đẻ bà Hán Thị Minh H cung cấp: Bà H đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; tuy nhiên hiện bà H đi làm ăn xa thỉnh thoảng gia đình có việc thì bà H mới về nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Quá trình chung sống vợ chồng ông T và bà H không có con chung và có xảy ra mâu thuẫn. Sau khi kết hôn được hơn một năm thì bà H chuyển về sống cùng nhà với bà X tại Khu H, xã B. Khoảng giữa năm 2024, con rể bà là Đào Văn T đã từng làm đơn xin ly hôn bà H gửi đến TAND huyện Lâm Thao nhưng sau đó lại rút đơn. Nay ông T tiếp tục làm đơn xin ly hôn với bà H, bà đã thay mặt bà H nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo ngay nội dung của các văn bản cho bà H biết. Bà H có trao đổi lại với bà là vợ chồng sống ly thân đã lâu, hiện không còn tình cảm với nhau nên cũng đồng ý ly hôn nhưng vì điều kiện công việc bà không thể đến Tòa án để làm việc theo thông báo của Tòa án được và đề nghị Tòa án giải quyết đơn ly hôn của ông T theo quy định của pháp luật.
Như vậy, bà H đã biết được việc ông T xin ly hôn đối với bà nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên được coi là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với bà H là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù ông T vắng mặt nhưng đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai là đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn đối với bà H vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho ông T được ly hôn với bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, ông Đào Văn T xác định về con chung, tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp là không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết. Nếu sau này bà H yêu cầu giải quyết và có căn cứ thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Ông Đào Văn T phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1, 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đào Văn T ly hôn bà Hán Thị Minh H.
- Về con chung, tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Ông Đào Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001772 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ông T đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Đào Văn T và bà Hán Thị Minh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thị Hà Thu |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
