|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/DS-ST Ngày: 03-3-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Nghĩa.
- Ông Trịnh Minh Tường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tống Hoàng Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93A/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1. Địa chỉ trụ sở: Số B - B C, phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1967; cư trú tại: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngô Phúc V, sinh năm 1972, địa chỉ: Số A T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP N1), vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP N1. Địa chỉ trụ sở: SR18-SR19 Trung tâm thương mại Q1, số G N, Phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định (theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 11 năm 2023).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Danh T, sinh năm 1973, địa chỉ: Số C N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP N1), vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Danh T: Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1972 – Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP N1 (theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 11 năm 2023), vắng mặt.
Người được ông Đinh Văn T1 ủy quyền lại: Ông Nguyễn Chí B, sinh năm 2000, bà Phan Thị Thủy T2, sinh năm 2000 và ông Huỳnh Phương N, sinh năm 2000; địa chỉ: Lầu F, số D L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 7 năm 2024); ông B có mặt; bà T2 và ông N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 15/01/2019, ông Huỳnh Văn K ký hợp đồng tín dụng dư nợ giảm dần số 0032/2019/925-CV với Ngân hàng TMCP N1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – Chi nhánh T3 P vay số tiền 1.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01/GNN-0032/2019/925-CV, thời hạn vay 180 tháng; lãi suất 12,5%/năm, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; mục đích vay hoàn tiền mua bất động sản phục vụ nhu cầu đời sống.
Để bảo đảm cho khoản vay, ông K và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp tài sản số 0028/2019/925-BĐ ngày 15/01/2019 tại Văn phòng C; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 2.280m² thửa đất số 357, tờ bản đồ số 4 tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE884434, số vào sổ cấp GCN CH 00807 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 09/03/2012 cho ông Phạm Hoàng M; cập nhật biến động ngày 11/01/2019 cho ông Huỳnh Văn K.
Ông K đã thanh toán 01 kỳ ngày 21/02/2019 số tiền gốc 5.555.556 đồng, tiền lãi 10.616.438 đồng, tổng cộng 16.171.994 đồng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/3/2019 đến nay. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K có nghĩa vụ trả nợ gốc 994.444.444 đồng, nợ lãi 1.011.370.845 đồng, tổng cộng 2.005.815.289 đồng, yêu cầu trả lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông K không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, ông K có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng đến khi trả nợ xong.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn K trình bày:
Ông có ký hợp đồng vay tiền với Ngân hàng TMCP N1 và thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất tại tỉnh Long An do ông đứng tên. Tuy nhiên thời gian đã lâu ông không nhớ thời gian vay, số tiền vay, kỳ hạn vay, mức lãi suất vay và thông tin quyền sử dụng đất, quá trình đăng ký thế chấp. Ông thừa nhận chữ ký, chữ viết trên các hợp đồng với Ngân hàng là của ông viết, ký tên. Ông đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 về việc trả số tiền nợ gốc, tiền lãi và đồng ý xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất để thanh toán nợ.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Huỳnh Văn K trả số tiền nợ gốc 994.444.444 đồng, tiền lãi tính đến ngày 03/03/2025 gồm nợ lãi trong hạn 9.535.769 đồng, lãi chậm trả lãi 5.695.336 đồng, nợ lãi quá hạn 1.113.721.460 đồng; tổng cộng 2.123.397.009 đồng; yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Ông K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án, tống đạt văn bản tố tụng, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, người tham gia tố tụng; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 309, 310, 311, 314, 315 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 đối với ông Huỳnh Văn K về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền tạm tính đến ngày 03/3/2025 là 2.123.317.101 đồng, trong đó nợ gốc 994.444.444 đồng, nợ lãi 1.128.872.657 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Trường hợp ông K không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 2.280 m², thửa đất số 357, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 884434, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00807 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 09/3/2012 cho ông Phạm Hoàng M, thay đổi người sử dụng đất ông Huỳnh Văn K ngày 11/01/2019 để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 đối với ông Huỳnh Văn K về việc yêu cầu trả số tiền lãi 79.908 đồng.
Về án phí: ông K phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
- Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện ông Huỳnh Văn K, địa chỉ nơi cư trú: Áp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu trả số tiền nợ vay, tiền lãi và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên.
- Về pháp luật áp dụng: Hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận ký kết ngày 15/01/2019 trước ngày Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2024). Căn cứ Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án:
- Xét hợp đồng tín dụng: Nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ là hợp đồng tín dụng số 0032/2019/925-CV ngày 15/01/2019 giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP N1 – CN Tân Định – P, bên vay ông Huỳnh Văn K, số tiền vay 1.000.000.000 đồng, lãi suất vay 12,5%/năm điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; thời hạn vay 180 tháng, mục đích vay hoàn tiền mua bất động sản; thời gian trả lãi ngày 15 định kỳ 01 tháng/lần từ ngày 15/02/2019; nợ gốc trả mỗi kỳ theo lịch trả nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Ngày 15/01/2019, Ngân hàng thực hiện giải ngân cho ông K số tiền 1.000.000.000 đồng tại Giấy nhận nợ số 01/GNN-0032/2019/925-CV. Ông K thừa nhận chữ ký, chữ viết họ tên trên hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ do ông viết, ký tên. Nhận thấy chủ thể giao kết, nội dung, hình thức và mục đích của hợp đồng tín dụng có đủ điều kiện quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự và phát sinh hiệu lực giữa các bên.
- Yêu cầu tính lãi: Các điều 1, 9 của Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ các bên thỏa thuận lãi suất vay 12,5%/năm, điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; trường hợp ông K chậm trả nợ gốc, tiền lãi thì phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm phát sinh quá hạn đối với nợ gốc không trả đúng hạn, trả lãi chậm trả 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng thời gian chậm trả. Ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ kỳ thứ 2 ngày 15/03/2019 nên phải trả lãi như sau:
- Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Ngân hàng TMCP N1 cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ là hợp đồng thế chấp tài sản số 0028/2019/925-BĐ ngày 15/01/2019 với ông Huỳnh Văn K, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 2.280 m², thửa đất số 357, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 884434, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00807 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 09/3/2012 cho ông Phạm Hoàng M, thay đổi người sử dụng đất là ông Huỳnh Văn K ngày 11/01/2019. Mục đích để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng số 0032/2019/925-CV ngày 15/01/2019. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 553, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T ngày 15/01/2019. Hợp đồng thế chấp tài sản có đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, căn cứ các điều 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực thi hành từ thời điểm đăng ký thế chấp ngày 15/01/2019.
- Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 6.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Căn cứ các điều 157, 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông K phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 6.000.000 đồng.
- Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ giải ngân tiền vay cho ông K; ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 5.555.556 đồng, tiền lãi 10.616.438 đồng, tổng cộng 16.171.994 đồng ngày 21/02/2019. Ông K thừa nhận còn nợ Ngân hàng TMCP N1 số tiền nợ gốc 994.444.444 đồng và tiền lãi. Nhận thấy từ kỳ thanh toán thứ hai ngày 15/3/2019 đến nay, ông K không thanh toán nợ gốc mỗi kỳ và tiền lãi cho Ngân hàng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được thỏa thuận tại Điều 4, Điều 6 của Hợp đồng tín dụng và Phụ lục C1 kèm theo hợp đồng tín dụng. Căn cứ Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 466 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1, buộc ông K có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 994.444.444 đồng.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn từ ngày 15/02/2019 đến ngày 15/3/2019 số tiền 994.444.444 đồng x 28 ngày x 12,5%/năm/365 ngày = 9.535.769 đồng.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn từ ngày 15/3/2019 đến ngày 03/3/2025 số tiền 994.444.444 đồng x 2.180 ngày x 12,5%/năm/365 ngày x 150% = 1.113.641.552 đồng.
Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 15/3/2019 đến ngày 03/3/2025 số tiền 9.535.769 đồng x 2.180 ngày x 10%/năm/365 ngày = 5.695.336 đồng.
Căn cứ Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 7, 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Ngân hàng TMCP N1 yêu cầu ông K trả lãi số tiền 9.535.769 đồng + 1.113.641.552 đồng + 5.695.336 đồng = 1.128.872.657 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu tính lãi quá hạn của kỳ tính lãi ngày 15/3/2019 trên nợ gốc 5.555.556 đồng, thời gian 28 ngày, lãi suất 18,75%/năm số tiền 79.908 đồng: Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Tại kỳ trả nợ ngày 15/3/2019, ông K không trả nợ gốc, tiền lãi đúng hạn, Ngân hàng đã xử lý chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc không trả và tính lãi trên nợ lãi chưa trả. Ngân hàng yêu cầu tính lãi số tiền 79.908 đồng là không có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả lãi số tiền 79.908 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu tính lãi trên.
Điều 6 của Hợp đồng thế chấp các bên thỏa thuận về việc xử lý tài sản thế chấp. Ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng, căn cứ các điều 299, 323 của Bộ luật Dân sự, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 đối với ông Huỳnh Văn K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Ông Huỳnh Văn K phải chịu 72.000.000 đồng + (994.444.444 đồng + 1.128.872.657 đồng – 2.000.000.000 đồng) x 2% = 74.446.342 đồng, tính tròn 74.446.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng 36.058.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024; các điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017); các điều 117, 118, 119, 299, 317, 318, 319, 323, 466 của Bộ luật Dân sự; các điều 7, 8, 12, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các điều 147, 157, 158, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 đối với ông Huỳnh Văn K về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Trường hợp ông Huỳnh Văn K không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 2.280 m², thửa đất số 357, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 884434, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00807 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 09/3/2012 cho ông Phạm Hoàng M, thay đổi người sử dụng đất ông Huỳnh Văn K ngày 11/01/2019 để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Hợp đồng thế chấp tài sản số 0028/2019/925-BĐ ngày 15/01/2019; số công chứng 553, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C). Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật Dân sự.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 đối với ông Huỳnh Văn K về việc yêu cầu trả số tiền lãi 79.908 (bảy mươi chín nghìn chín trăm linh tám) đồng.
- Chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn K phải chịu chi tố tụng; buộc ông K có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
- Án phí: Ông Huỳnh Văn K phải chịu 74.446.000 (bảy mươi bốn triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ này nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc ông Huỳnh Văn K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền nợ gốc 994.444.444 đồng; tiền lãi tính đến ngày 03/3/2025 gồm lãi trên nợ gốc trong hạn 9.535.769 đồng, tiền lãi trên nợ gốc quá hạn 1.113.641.552 đồng, tiền lãi trên nợ lãi chưa trả 5.695.336 đồng; tổng cộng 2.123.317.101 (hai tỷ một trăm hai mươi ba triệu ba trăm mười bảy nghìn một trăm linh một) đồng.
Kể từ ngày 04 tháng 3 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0032/2019/925-CV và giấy nhận nợ số 01/GNN-0032/2019/925-CV ngày 15/01/2019. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trường hợp ông Huỳnh Văn K hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N1 có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho ông K.
Ngân hàng TMCP N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 36.058.000 (ba mươi sáu triệu không trăm năm mươi tám nghìn) đồng Ngân hàng TMCP N1 đã nộp theo biên lai thu số 0005283 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hải |
Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 10/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 đối với ông Huỳnh Văn K. Buộc ông K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền nợ gốc, tiền lãi tổng cộng 2.123.317.101 đồng
