Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 02 – 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP- NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thu Hương và ông Đỗ Xuân Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 28/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 17/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1990, tại Thanh Hóa; giới tính: nam; nơi cư trú: phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Hữu H và con bà Phạm Thị L; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; có vợ đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến: anh Phạm Hoàng A, sinh năm 1999, nơi cư trú: thôn F, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1990, trú tại phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, chiều ngày 16/12/2024 Đ bắt xe ô tô khách đi từ nhà đến khu vực xã Đ, thành phố T Đức xuống xe, đi bộ vào ngõ S, đường N thuộc thôn D, xã Đ, thành phố T thì nhìn thấy một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ trông giống người nghiện ma túy nên đi đến gần hỏi có ma tuý đá không bán cho Đ, người đàn ông hỏi lại mua bao nhiêu, Đ nói “mua 250.000 đồng”, người đàn ông đồng ý và bảo “đưa tiền đây”, Đ lấy 250.000 đồng đưa cho người đàn ông; người đàn ông nhận tiền và đưa cho Đ một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và nói ma túy ở bên trong, Đ cầm lấy thấy ở dưới đáy vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc lá Thăng Long màu vàng có một túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu bên trong có chất tinh thể màu trắng, biết đó là túi ma túy đá nên Đ cầm ở tay phải của mình. Sau đó Đ đi bộ ra đầu ngõ S, đường N để bắt xe về nhà, trong lúc đợi xe thì Đ gặp tổ công tác Công an xã Đ, thành phố T đang tuần tra phát hiện Đ có biểu hiện nghi vấn nên đến yêu cầu kiểm tra hành chính Đ không xuất trình được giấy tờ gì. Tổ công tác hỏi Đ có sử dụng ma túy không thì Đ khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy đá và tự giác giao nộp 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, ở bao thuốc lá có 01 túi ma túy của Đ vừa mua được cho tổ công tác và khai nhận Đ vừa mua được của người đàn ông không quen biết mang theo để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác kiểm tra bao thuốc lá do Đ giao nộp, bên trong bao thuốc lá không có điếu thuốc lá nào, ở dưới đáy vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc lá có 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ bên trong túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng Đ khai là ma túy đá, đồng thời Đ còn tự giác giao nộp số tiền 636.000 đồng (Sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng) cho tổ công tác, tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Mạnh Đ có khối lượng 0,22 gam ký hiệu QT01 gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 42/KL-KTHS-MT ngày 22/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu QT01 có khối lượng 0,2177 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine

Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra bị can Nguyễn Mạnh Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSTPTĐ ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ từ 15 đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ từ ngày 16/12/2024.

    Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 0,1380 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi gửi đi giám định, cùng toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu; 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (2x2)cm niêm phong trong một phong bì; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong không có điếu thuốc lá nào;

    - Trả lại cho Nguyễn Mạnh Đ 636.000 đồng (Sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng)

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về hành vi của bị cáo:

    Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh Đ đã khai nhận như sau: Chiều ngày 16/12/2024, bị cáo Đ bắt xe khách từ nhà đến khu vực xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy. Tại ngõ S, đường N thuộc thôn D, xã Đ, thành phố T bị cáo gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 250.000 đồng được 0,2177 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày bị cáo tổ công tác Công an xã Đ, thành phố T phát hiện và bắt quả tang.

    Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định số số 42/KL-KTH- MT ngày 22/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo có hành vi cất dấu 0,2177 gam, là ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:

    1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

      a,................

      b, .................

      c, H1, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

      d, .................

      2...

    Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi nêu trên của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp... Nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện điều đó, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.

  2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; khi bị yêu cầu kiểm tra đã tự giác giao nộp ma túy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt là phù hợp.
  3. Về hình phạt: từ sự phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
  4. Về các vấn đề khác:
    • [4.1] Về nguồn gốc số Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Mạnh Đ, Đ khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực ngõ S, đường N thuộc thôn D, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
    • [4.2] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Tuy nhiên, bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
    • [4.3]. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

      - Đối với 0,1380 gam ma túy, loại Methamphetamine vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Mạnh Đ là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

      - 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (2x2)cm niêm phong trong một phong bì; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

      - Tiền ngân hàng N 636.000 đồng (Sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  6. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy 0,1380 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi gửi đi giám định, cùng toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu; 01 phong bì; 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (2x2) cm niêm phong trong một phong bì; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong không có điếu thuốc lá nào.

    (Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 BL 116)

    - Trả lại cho Nguyễn Mạnh Đ Tiền ngân hàng N 636.000 đồng (Sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

  3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Ninh Bình;

- VKSND Tp. Tam Điệp;

- THADS Tp. Tam Điệp;

- CA Tp. Tam Điệp;

- Bị cáo;

- Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Huệ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đinh Thu Hương – Đỗ Xuân Tuấn

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger