Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/KDTM-ST

Ngày 23 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung và bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2024/TLST-KDTM ngày 15 tháng 01 năm 2024, về việc việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06A/2024/QĐST-KDTM, ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần T1. Trụ sở: Lô 5 + 6, ngách A, ngõ A, đường N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc H – chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: bà Huỳnh Anh H1, sinh năm 1997; Địa chỉ: đường T, khóm T, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công ty cổ phần T1: Luật sư Trần Ngọc Hoàng A – Công ty TNHH H2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (vắng mặt)

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T2. Địa chỉ: Số A, đường N, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Đức T, Chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty cổ phần T1, đại diện theo ủy quyền bà Huỳnh Anh H1 trình bày: Giữa Công ty cổ phần T1 (Gọi tắt: Công ty T1) và Công ty TNHH T2 (Gọi tắt: Công ty T2) có thỏa thuận mua bán thiết bị phụ tùng bằng hình thức thu công nợ là khi giao hàng xong bên Công ty T2 thanh toán hết hoặc thanh toán một phần và đến cuối tháng và cuối năm tài chính phải thanh toán hết công nợ còn thiếu. Từ ngày 26/01/2021 đến ngày 03/6/2021 Công ty T2 đã mua hàng của Công ty T1 với tổng số tiền là 183.255.000 đồng (chưa bao gồm thuế VAT), sau khi tính thuế là 197.915.400 đồng (thuế VAT 8%), đến ngày 24/5/2021 các bên có ký kết hợp đồng kinh tế số 185/2021/HĐKT/HG-TD, ký ngày 24/5/2021, sau khi ký kết hợp đồng thì ngày 25/5/2021 bên Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty T1 được 25.000.000 đồng. Từ ngày 03/6/2021 thì giữa các bên không có phát sinh thêm đơn hàng mua bán nào khác và Công ty T2 cũng không thanh toán số tiền nợ còn thiếu. Khi các bên không còn giao dịch mua bán với nhau thì có ký kết bản đối chiếu công nợ do Công ty T2 ký xác nhận nhưng Công ty T2 vẫn không trả nợ. Sau nhiều lần đòi nợ thì đến ngày 10/10/2022 ông T có viết tay vào biên bản đối chiếu công nợ với nội dung hứa tuần sau ngân hàng giải ngân sẽ thanh toán nợ cho Công ty T1, cụ thể “Đề nghị bên Công ty T1 hỗ trợ xuất hóa đơn tài chính để ngân hàng đủ thủ tục giải ngân trong tuần này hoặc tuần sau do phải đăng ký room”. Đến ngày 12/10/2022 Công ty T1 đã bổ sung đầy đủ chúng từ theo đề nghị của Công ty T2 và bàn giao cho Công ty T2 các thủ tục nhưng Công ty T2 vẫn không thực hiện. Nay Công ty T1 yêu cầu Công ty T2 trả số tiền mua phụ tùng máy bơm còn nợ là 172.915.400 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH T2 trình bày theo văn bản ngày 05/3/2024: Công ty T2 thừa nhận có ký ký hợp đồng kinh tế số 185/2021/HĐKT/HG-TD, ký ngày 24/5/2021 với công ty T1 là đúng, tuy nhiên hợp đồng kinh tế nêu trên chỉ là sự thỏa thuận ban đầu, hóa đơn mua bán là do Công ty T1 tự xuất, Công ty T1 không chứng minh được công ty T2 có đặt hàng (đơn đặt hàng) và ủy quyền cho người Công ty T2 nhận hàng cũng như các biên bản nghiệm thu thiết bị. Vì vậy Công ty T2 không đồng ý trả số tiền 172.915.400 đồng cho Công ty T1, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty T1.

Tại bản tự khai, biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ đại diện công ty T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:

Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

- Về tố tụng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên chấp nhận; bị đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ 02 lần, nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp: Hợp đồng kinh tế số 185/2021/HĐKT/HG-TD, ký ngày 24/5/2021 về việc cung cấp phụ tùng cho bơm bê tông giữa Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH T2 là có trên thực tế, cũng như số lượng hàng hóa, số tiền hàng hóa là 197.915.400 đồng, việc Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty cổ phần T1 số tiền 25.000.000 đồng là những tình tiết được các đương sự thừa nhận là có thực tế, nên áp dụng Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Công ty T2 xác định hợp đồng kinh tế nêu trên chỉ là sự thỏa thuận ban đầu, hóa đơn mua bán là do Công ty T1 tự xuất, Công ty T1 không chứng minh được công ty T2 có đặt hàng (đơn đặt hàng) và ủy quyền cho người Công ty T2 nhận hàng cũng như các biên bản nghiệm thu thiết bị là không có căn cứ do C xác nhận trong bản đối chiếu công nợ vào ngày 31/3/2022 và ghi các yêu cầu trong bản đối chiếu công nợ vào ngày 10/10/2022, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T2 trả cho Công ty T1 số tiền 172.915.400 đồng. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào kết quả tranh luận giữa các đương sự tại phiên tòa; quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Công ty cổ phần T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH T2 trả tiền mua phụ tùng cho bơm bê tông. Cả hai công ty đều có đăng ký kinh doanh và đều vì mục tiêu lợi nhuận nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp kinh doanh thương mại về mua bán hàng hóa” theo quy định tại Điều 3 Luật Thương mại 2005 và khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại số A, đường N, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T1 đối với Công ty TNHH T2 yêu cầu trả tiền mua phụ tùng còn thiếu.

[2.1] Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH T2 đều thừa nhận: Theo Hợp đồng kinh tế số 185/2021/HĐKT/HG-TD, ký ngày 24/5/2021 về việc cung cấp phụ tùng cho bơm bê tông đã ký kết giữa Cty phụ tùng H3 với C; thì Công ty T1 đã bán cho Cty Đức Trọng các loại phụ tùng được liệt kê cụ thể tại Điều 1 của hợp đồng. Các bên đã ký kết hợp đồng và xác nhận của hai công ty. Xét đây là những tình tiết, sự kiện được các đương sự thừa nhận phù hợp với nhau, không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Xét Công ty T1 yêu cầu Công ty T2 thanh toán tiền mua bán phụ tùng cho bơm bê tông còn thiếu chưa thanh toán số tiền 172.915.400 đồng.

Phía Công ty T1 cho rằng: Sau khi giao hàng cho Công ty T2, Công ty T1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty T2 thanh toán, phía ông Trần Đức T chỉ thanh toán được số tiền 25.000.000 đồng khi ký kết hợp đồng, còn lại số tiền 172.915.400 đồng chưa thanh toán mà cứ hứa hẹn, mặc dù các bên đã đối chiếu công nợ và Công ty T1 đã làm theo các yêu cầu của phía Công ty T2 cụ thể “Hỗ trợ xuất hóa đơn tài chính để ngân hàng đủ thủ tục giải ngân trong tuần này hoặc tuần sau do phải đăng ký room”. Đến ngày 12/10/2022 Công ty T1 đã bổ sung đầy đủ chúng từ theo đề nghị của Công ty T2 và bàn giao cho Công ty Đ các thủ tục nhưng Công ty T2 vẫn không thực hiện.

Phía Công ty T2 cho rằng: Hợp đồng kinh tế nêu trên chỉ là sự thỏa thuận ban đầu, hóa đơn mua bán là do Công ty T1 tự xuất, Công ty T1 không chứng minh được Công ty T2 có đặt hàng (đơn đặt hàng) và ủy quyền cho người Công ty T2 nhận hàng cũng như các biên bản nghiệm thu thiết bị nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía Công ty T1.

Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 31/3/2022 giữa Công ty T1 và Công ty T2 có xác nhận thông qua Bản đối chiếu công nợ từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/03/2022 với tổng số tiền Công ty T2 còn nợ Công ty T1 là 183.255.000 đồng (chưa bao gồm thuế VAT), Công ty T2 đã thanh toán được 25.000.000 đồng vào ngày 25/5/2021, còn nợ lại số tiền 158.255.000 đồng, sau khi tính thuế VAT 8% thì số tiền Công ty T2 còn nợ là 172.915.400 đồng. Mặc khác, sau khi đối chiếu công nợ thì phía Công ty T2 có ghi tay nội dung “Việc khối lượng và giá để hỏi lại phú lại kiểm tra giá trị và khối lượng tạm tính”, sau đó đến ngày 10/10/2022 ông T có viết tay vào biên bản đối chiếu công nợ với nội dung “Đề nghị bên Công ty T1 hỗ trợ xuất hóa đơn tài chính để ngân hàng đủ thủ tục giải ngân trong tuần này hoặc tuần sau do phải đăng ký room”. Công ty T1 đã bổ sung đầy đủ chúng từ theo đề nghị của Công ty T2 và bàn giao cho Công ty T2 các thủ tục nhưng Công ty T2 vẫn không thực hiện. Từ đó cho thấy việc Công ty T2 trình bày hóa đơn mua bán là do Công ty T1 tự xuất, Công ty T1 không chứng minh được công ty T2 có đặt hàng (đơn đặt hàng) và ủy quyền cho người Công ty T2 nhận hàng cũng như các biên bản nghiệm thu thiết bị là không có căn cứ nên cần buộc Công ty T2 thanh toán cho Công ty T1 số tiền còn nợ là 172.915.400 đồng là phù hợp.

[3] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại: Do yêu cầu của Công ty cổ phần T1 được chấp nhận, nên Công ty TNHH T2 phải chịu án phí là 8.645.770 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 431, 433, 434, 435, 436, 440 Bộ luật Dân sự.

Áp dụng Điều 3, 24, 50; khoản 3 Điều 317 Luật Thương mại.

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T1 đối với Công ty TNHH T2.
  2. Buộc Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần T1 số tiền 172.915.400 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu, chín trăm mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại: Công ty TNHH T2 phải nộp 8.645.770 đồng (Tám triệu, sáu trăm bốn mươi lăm nghìn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

    Công ty cổ phần T1 không phải chịu án phí. Công ty cổ phần T1 đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 4.322.000 đồng theo biên lai số 0002327 ngày 15 tháng 01 năm 2024 được hoàn lại toàn bộ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về kháng cáo: Công ty cổ phần T1 và Công ty TNHH T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Khưu Liên Dung

Lâm Thị Nguyệt Hồ

Bùi Công Bằng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THAẢM

TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN-CHỦ

Bùi Công B

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2023/KDTM-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp kinh doanh thương mại về mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 10/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kinh doanh thương mại về mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger