Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 28/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hồng Điệp

Bà Trần Thúy Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến-Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 01/01/1972; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn D (chết) và bà Trần Thị T1 (chết); Có chồng và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1989 và nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 23/10/2023 bị Trưởng Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép tại Quyết định số 167/QĐ-XPHC, nộp phạt ngày 01/11/2023 đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2024 cho đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 01/01/1965; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng X và bà Nguyễn Thị L; Có chồng và 01 người con sinh năm 1990; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, vào ngày 31/3/2023 bị Trưởng Công an huyện L, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 7.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép tại Quyết định số 40/QĐ-XPHC, nộp phạt ngày 08/5/2023 đến lần phạm tội này chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
  3. Nguyễn Thị K, sinh ngày 01/01/1972; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Huỳnh Thị H; Có chồng và 02 người con, lớn sinh năm 1993 và nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
  4. Lê Thị L1, sinh ngày 01/01/1969; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D1 (chết) và bà Đặng Thị K1 (chết); Có chồng và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990 và nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
  5. Võ Thị H1, sinh ngày 01/01/1974; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị L2; Có chồng và 01 người con, sinh năm 1998; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
  6. Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/01/1972; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Huỳnh Thị H; Có chồng và 02 người con, lớn sinh năm 1991 và nhỏ sinh năm 1999; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
  7. Nguyễn Thị Huyền T3, sinh ngày 16/4/1994; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Đặng Thị G; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Bà Đinh Thị H2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1955; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  3. Bà Hồ Thanh T4, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, Đội Điều tra Tổng hợp-Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã P, huyện L tiến hành kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bạc với hình thức chơi bài binh 06 lá, được thua bằng tiền tại căn phòng bên trong căn nhà của Nguyễn Thị K ở ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Các đối tượng gồm: Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Thị Huyền T3, Nguyễn Thị S, Võ Thị H1, Nguyễn Nhựt T2, Lê Thị L1, Đinh Thị H2, Hồ Thanh T4, và Nguyễn Văn H3. Đồng thời, lực lượng Công an tiến hành thu giữ tại hiện trường nhiều tang vật.

Quá trình xác minh, các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn Thị Bích T đến nhà Nguyễn Thị K chơi thì gặp S, H1, L1, sau đó thì H2, T3 và Bích T đến sau, cả nhóm hỏi mượn căn phòng bên trong căn nhà của K để tham gia đánh bạc trái phép, hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, khi ai thắng sẽ cho tiền Két từ 5.000 đồng, 10.000 đồng, 20.000 đồng tùy vào người thắng và được K đồng ý. Khi vào bên trong căn phòng của nhà K thì H1, S, L1, T3, Bích T, Nhựt T2 cùng sử dụng bài tây mà Nhựt T2, S và H1 góp mỗi người 20.000 đồng để mua. Bộ bài tây có tổng cộng 52 lá bài nhưng đã được bỏ đi 12 quân tây nên chỉ còn lại 40 lá bài. Khi tham gia đánh bạc sẽ gồm 04 tụ bài, có 01 tụ bài nhà cái và 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược, những người không ngồi tụ xem bài sẽ ké tiền vào tụ bài mà họ muốn đặt hoặc thạnh vào tụ nhà cái nếu được nhà cái đồng ý. Bắt đầu ván bạc, 03 tụ bài tay em sẽ đặt cược tiền xuống, những người không ngồi tụ sẽ ké tiền vào tụ bài họ muốn. Tiếp đó, nhà cái sẽ chia đều cho 04 tụ, mỗi tụ 06 lá bài để mỗi tụ bài tự sắp xếp bài. Sau đó, nhà cái sẽ mở bài và phân định thắng, thua với từng tụ bài đặt cược rồi chung tiền cho nhau là kết thúc ván bài. Mỗi người sẽ làm cái vài ván bài, làm xoay vòng và không cố định cho một người, ai không làm có thể chuyển cho người tiếp theo. Theo vòng lặp thì bà L1 ngồi bên phải bà S, chuẩn bị làm cái thì bị công an bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà những người tham gia dùng đánh bạc trái phép là 6.013.000 đồng, trong đó:

Tại hiện trường: số tiền 700.000 đồng (trong đó có: 200.000 đồng của Lê Thị L1, 100.000 đồng của Nguyễn Thị Huyền T3, 100.000 đồng của Nguyễn Thị Bích T, 300.000 đồng của Nguyễn Thị S).

Thu giữ trên người dùng để đánh bạc gồm: Bích T đem theo 2.600.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc nhưng thua 270.000 đồng, còn 2.330.000 đồng bị tạm giữ; T3 đem theo 885.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc, thắng 100.000 đồng nên bị tạm giữ 985.000 đồng; S đem theo 600.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc, lúc bị bắt không thắng không thua; H1 đem theo 1.640.000 đồng, dùng 400.000 đồng vào việc đánh bạc; T đem theo 498.000 đồng và dùng số tiền này vào việc đánh bạc, lúc bị bắt không thắng không thua và L1 đem theo 23.110.000 đồng, dùng 500.000 đồng vào việc đánh bạc, còn lại 22.610.000 đồng là tiền đóng hụi và tiêu xài cá nhân. Riêng đối với Nguyễn Thị K không tham gia đánh bạc nhưng cho mượn địa điểm là căn phòng bên trong căn nhà của K cho những người nêu trên tham gia đánh bạc trái phép để thu tiền xâu, nhưng chưa thu được tiền xâu thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, đối với H2 bị thu giữ số tiền 665.000 đồng được bà H2 nhưng tại thời điểm bị bắt quả tang thì H2 đã nghỉ không tham gia chơi đánh bạc được khoảng 04-05 ván, T4 bị thu giữ 9.930.000 đồng là tiền gom hụi của các hụi viên và tiền tiêu xài cá nhân, không liên quan đến hành vi đánh bạc và H3 đem theo 539.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép nhưng chưa tham gia thì bị bắt.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKS-LP ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T3 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bích T, Nhựt T2 và K. Đề nghị xử phạt các bị cáo Bích T từ 06 tháng đến 12 tháng tù, Nhựt T2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù và bị cáo K từ 06 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo S, L1, H1 và T3. Đề nghị xử phạt các bị cáo S, L1, H1 và T3 từ 06 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 40 mươi lá bài Tây đã qua sử dụng; 15 bộ bài Tây chưa qua sử dụng.

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam là 6.013.000 đồng.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tội, không oan sai cho các bị cáo. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn Nhựt T2 đến nhà của Nguyễn Thị K chơi thì gặp S, H1, L1, T3, Bích T nên cả nhóm cùng rủ nhau mượn căn phòng của nhà K để đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, cách thức chơi bài là có 01 tụ làm nhà cái và 03 tụ đặt, nếu ai thắng thì sẽ cho K tiền điện máy lạnh từ 5.000 đồng đến 20.000 đồng thì K đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, khi Nhựt T2, S, H1, L1, H2, T3 và Bích T đang chơi bài thì bị bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền là 700.000 đồng và thu trên người của các bị cáo số tiền mang theo dùng vào việc đánh bạc là 5.313.000 đồng nên tổng số tiền dùng để đánh bạc là 6.013.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Nhựt T2, K, S, H1, L1, T3, Bích T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Các bị cáo đã cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Vài trò cụ thể của từng bị cáo như sau:

Đối với các bị cáo Nhựt T2, S, H1, L1, T3, Bích T đều là người thực hành tích cực, chính các bị cáo là người trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, cụ thể: các bị cáo T3, L1, S và Bích T làm tụ nhà cái còn các bị cáo Nhựt T2, H1 là tụ đặt. Riêng bị cáo K là người giúp sức tích cực, chính bị cáo K đã cho các bị cáo còn lại mượn địa điểm đánh bạc là nhà và phòng ngủ của bị cáo.

[4]. Các bị cáo không có tình tiết tăng tiết tăng nặng. Xét về nhân thân các bị cáo Nhựt T2 và Bích T chưa có tiền án nhưng có 01 lần tiền sự như phần lý lịch đã nêu, còn các bị cáo S, H1, L1, T3 và K đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T3 có ông bà ngoại là người có công với nước. Bị cáo Bích T đã ra đầu thú. Do đó, các bị cáo Bích T, Nhựt T2, S, H1, L1, T3 và K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng các bị cáo Bích T, S, H1, L1, T3 và K còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

[5]. Từ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo và răn đe các bị cáo trở thành công dân tốt sống phải chấp hành đúng quy định pháp luật, thấy rằng:

Các bị cáo Nhựt T2 và Bích T đã có tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa thể hiện sự ăn năn, hối cãi. Còn bị cáo K là người cung cấp địa điểm là nhà của bị cáo để các bị cáo còn lại tham gia chơi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền nên khi quyết định hình phạt cần xử phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo S, H1, L1 và T3 là phù hợp.

Đối với các bị cáo S, H1, L1 và T3 có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, các bị cáo cũng không thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 2 của Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (Văn bản hợp nhất của Tòa án nhân dân Tối cao số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022) cho các bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của chính sách pháp luật Nhà nước ta đối với các bị cáo.

[6]. Đối với Đinh Thị H2 trước đó có tham gia ké thạnh đánh bạc với các bị cáo, nhưng tại thời điểm bắt quả tang thì H2 đã nghỉ chơi khoảng 04 ván đến 05 ván, không xác định được số tiền dùng để đánh bạc ở các ván có H2 tham gia nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Công an huyện L đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Thị H2.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 15 bộ bài Tây và 40 lá bài Tây là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền Việt Nam là 6.013.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[8]. Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt các bị cáo ở mức đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích T.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T2.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị K.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị S.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Thị L1.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Thị H1.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1 Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T3 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/02/2025.
  5. Xử phạt bị cáo Lê Thị L1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/02/2025.
  6. Xử phạt bị cáo Võ Thị H1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/02/2025.
  7. Giao các bị cáo Nguyễn Thị S, Lê Thị L1 và Võ Thị H1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Thị S, Lê Thị L1 và Võ Thị H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách các bị cáo Nguyễn Thị S, Lê Thị L1 và Võ Thị H1 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo Nguyễn Thị S, Lê Thị L1 và Võ Thị H1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Gia đình các bị cáo Nguyễn Thị S, Lê Thị L1 và Võ Thị H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

  8. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28/02/2025.
  9. Giao bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Huyền T3 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

  10. Về xử lý vật chứng của vụ án: căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  11. Tịch thu tiêu hủy: 40 mươi lá bài Tây đã qua sử dụng; 15 bộ bài Tây chưa qua sử dụng.

    Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam là 6.013.000 đồng.

    (Theo Phiếu Nhập Kho số NK13 và Biên lai thu tiền số 0000449 cùng ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng)

  12. Về án phí sơ thẩm: căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  13. Buộc mỗi bị cáo là Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S, Lê Thị L1, Võ Thị H1 và Nguyễn Thị Huyền T3 phải chịu 200.000 đồng là án phí hình sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Phòng Hồ sơ Nghiệp vụ-Công an tỉnh Sóc Trăng (PV06);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Phân Trại Tạm giam huyện L;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND xã P và xã S;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về đánh bạc

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị S, Lê Thị L1, Võ Thị H1, Nguyễn Thị Huyền T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger