|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thanh Hải
2. Ông Nguyễn Văn Quế
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn K - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 3 năm 1976, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và con bà Trương Thị T; sinh năm: 1943; có vợ: Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1979 và có 02 con: Con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: không; Bị cáo tại ngoại có tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Hoàng Việt H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Trú tại: Xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Đình T1, sinh năm: 1956 (vắng mặt).
Trú tại: Khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
+ Ông Trần Văn D, sinh năm: 1965 (Vắng mặt).
Trú tại: Xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 03 năm 2024, Lê Văn K lên mạng xã hội Facebook thấy 01 (một) người đăng tin bán pháo (K không nhớ tên trang mạng xã hội Facebook, không biết tên, tuổi, địa chỉ người đăng tin bán pháo), do hám lợi nên Lê Văn K nảy sinh ý định mua pháo về để bán kiếm lời. Sau đó, Lê Văn K nhắn tin với người đăng tin trên trang mạng xã hội Facebook và hỏi mua được 05 (năm) hộp pháo, gồm: 03 (ba) hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 49 (bốn mươi chín) hình trụ tròn liên kết với nhau là pháo nổ với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) mỗi hộp và 02 (hai) hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 (ba mươi sáu) hình trụ tròn liên kết với nhau là pháo nổ với giá 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) mỗi hộp. Tổng cộng K mua 5 (năm) hộp pháo với số tiền là 3.600.000 đồng (ba triệu, sáu trăm nghìn đồng). K và người bán pháo thỏa thuận, người bán pháo sẽ gửi pháo cho Lê Văn K bằng xe khách, K thanh toán tiền mua pháo cho phụ xe khách đó. Khoảng mấy ngày sau, Lê Văn K nhận được cuộc gọi từ xe khách (Kiều không nhớ tên nhà xe, biển kiểm soát xe) để nhận hàng (là pháo). Lê Văn K đi đến khu vực đường Q thuộc xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An thì được người phụ xe khách giao cho 01 thùng cát tông (bên trong có chứa 05 hộp pháo nổ), còn K đưa cho người phụ xe khách số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) để thanh toán cho người bán pháo. Sau khi mua được số pháo trên, K đưa về nhà tại xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An và cất giấu tại phòng ngủ của mình với mục đích khi nào có người hỏi mua thì Lê Văn K sẽ bán nhằm thu lợi bất chính.
Đến ngày 20/11/2024, do muốn mua pháo về để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán năm 2025, nên khi Lê Văn K đang sửa chữa khu lăng mộ của gia đình anh Hoàng Việt H (sinh năm 1993, trú tại xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An) tại nghĩa trang xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An thì anh H hỏi Lê Văn K “có biết ai bán pháo không” thì K nói K có pháo bán và đồng ý bán cho Hoàng Việt H 04 hộp pháo nổ gồm: 02 hộp pháo nổ loại 36 quả với giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) mỗi hộp và 02 hộp pháo nổ loại 49 quả giá 1.000.000đ (một triệu đồng) mỗi hộp. Ngày 22/11/2024, Lê Văn K lấy ra 04 (bốn) hộp pháo từ trong 05 (năm) hộp pháo mà Lê Văn K đã cất giấu trước đó đưa đến nhà Hoàng Việt H, trong đó có 02 (hai) hộp hình chữ nhật có đặc điểm giống nhau kích thước mỗi hộp khoảng (15x15x12)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài bên trong có 36 (ba mươi sáu) hình trụ tròn liên kết với nhau; 02 (hai) hộp hình chữ nhật có đặc điểm giống nhau kích thước mỗi hộp khoảng (17x17x10)cm bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 49 (bốn mươi chín) hình trụ tròn liên kết với nhau. Tổng số tiền Lê Văn K bán 04 (bốn) hộp pháo cho Hoàng Việt H là 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Do lo sợ việc tàng trữ pháo nổ ở nhà của mình bị phát hiện nên vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/12/2024, Hoàng Việt H bỏ 04 hộp pháo nêu trên vào 01 thùng cát tông kích thước (40x30x20)cm để mang vào trang trại của gia đình H ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cất giấu. Khi Hoàng Việt H đưa thùng cát tông có chứa 04 hộp pháo đi đến khu vực đường Q thuộc khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An để bắt xe vào trang trại thì bị Công an phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện, thu giữ của Hoàng Việt H 01 (một) thùng cát tông, bên trong có chứa 04 (bốn) hộp pháo có đặc điểm như đã nêu trên.
Căn cứ lời khai của Hoàng Việt H, ngày 04/12/2024, Công an Thị xã T, tỉnh Nghệ An tiến hành làm việc với Lê Văn K, thu giữ 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật có kích thước (17x18x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau. Lê Văn K khai nhận, đây là hộp pháo còn lại sau khi Lê Văn K đã bán pháo cho Hoàng Việt H trước đó và Lê Văn K cất giấu hộp pháo này với mục đích tiếp tục bán để thu lợi bất chính.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An (bút lục 41) xác định:
+ 01 (một) hộp hình hộp chữ nhật có kích thước (17x18x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau ký hiệu M1 thu giữ của Lê Văn K có khối lượng là 1,682 kg (một phẩy sáu trăm tám mươi hai ki lô gam).
+ 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (15x15x12)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 hình trụ tròn liên kết với nhau ký hiệu M2 thu giữ của Hoàng Việt H có tổng khối lượng là 2,344 kg (hai phẩy ba trăm bốn mươi bốn ki lô gam).
+ 02 (hai) hộp hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x18x10)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau thu giữ của Hoàng Việt H có tổng khối lượng là 3,336 kg (ba phẩy ba trăm ba mươi sáu ki lô gam).
Tổng khối lượng pháo Lê Văn K mua về để bán kiếm lời là 7,362kg (bảy phẩy ba trăm sáu mươi hai ki lô gam).
Tổng khối lượng pháo Hoàng Việt H tàng trữ trái phép là 5,68kg (năm phẩy sáu mươi tám ki lô gam).
Tại Bản kết luận giám định số 455/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 08/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N (bút lục 45), kết luận: Các mẫu ký hiệu A1, A2, A3 gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 04 tháng 02 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Lê Văn K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190- BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Văn K từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng về tội “buôn bán hàng cấm”
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 – BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (15x15x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng là 1,164 kg; 01 hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng 1,656 kg; vỏ giấy niêm phong được niêm phong lại trong 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật, kích thước (31x21x12) cm, được dán kín, niêm phong đúng quy định.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.800.000đ (ba triệu, tám trăm nghìn đồng) do Lê Văn K giao nộp.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản làm việc lập vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 04/12/2024 tại khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu hồi 12 giờ ngày 04/12/2024 tại khối L, phường L và Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu lập hồi 13 giờ 05 phút, ngày 04/12/2024 tại nhà của bị cáo Lê Văn K thuộc xóm N, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng các vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng, cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó xác định được: Vào 11 giờ ngày 04/12/2024, tại khu vực khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an phường L, thị xã T đang tuần tra kiểm soát thì phát hiện Hoàng Việt H đang tàng trữ 04 hộp pháo nổ có khối lượng 5,68kg (năm phẩy sáu mươi tám ki lô gam) để sử dụng vào dịp Tết nguyên đán năm 2025. Quá trình điều tra đã xác định được nguồn gốc của 04 hộp pháo nói trên là của bị cáo Lê Văn K bán cho Hoàng Việt H vào ngày 22/11/2024 với giá 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Ngoài ra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T còn thu giữ của Lê Văn K 01 hộp pháo nổ có khối lượng 1,682 kg (một phẩy sáu trăm tám mươi hai ki lô gam). Lê Văn K khai nhận toàn bộ số pháo có khối lượng 7,362kg (bảy phẩy ba trăm sáu mươi hai ki lô gam) là K mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ trên mạng xã hội Facebook với giá 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) vào tháng 3/2024 để về bán kiếm lời. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn K đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 190- BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bất bình, tạo tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được việc buôn bán pháo nổ là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng với mục đích kiếm lời và thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có đường lối xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo đã nộp số tiền 3.800.000đ tiền bán pháo nổ cho Hoàng Việt H. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/VNHN - TANDTC ngày 07/9/2022, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi thường trú rõ ràng nên chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 - BLHS như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (15x15x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng là 1,164 kg; 01 hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng 1,656 kg; vỏ giấy niêm phong được niêm phong lại trong 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật, kích thước (31x21x12) cm, được dán kín, niêm phong đúng quy định.
Xét đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.
Đối với số tiền 3.800.000đ (ba triệu, tám trăm nghìn đồng) mà Lê Văn K đã nộp trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là số tiền trên là do K bán pháo nổ cho anh Hoàng Việt H mà có. Do đó số tiền này được xác định là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
[6] Đối với Hoàng VIệt H, sinh ngày 04/12/2024, đã có hành vi hàng vi tàng trữ 5,680kg (năm phẩy sáu tám mươi kilogam) pháo nổ. Hành vi của Hoàng Việt H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nên bị Chủ tịch UBND thị xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với người đã bán pháo cho Lê Văn K thông qua mạng xã hội facebook, tuy nhiên do không xác định được lai lịch nên chưa có cơ sở để xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- BLHS:
Xử phạt bị cáo Lê Văn K 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Giao bị cáo Lê Văn K về cho UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo K thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 - Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo K phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm b, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 – BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (15x15x12) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ nước ngoài, bên trong có 36 hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng là 1,164 kg; 01 hộp hình chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài được bọc bằng giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 hình trụ tròn liên kết với nhau có khối lượng 1,656 kg; vỏ giấy niêm phong được niêm phong lại trong 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật, kích thước (31x21x12) cm, được dán kín, niêm phong đúng quy định.
Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 8 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thị xã T và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 3.800.000đ (ba triệu, tám trăm nghìn đồng) do Lê Văn K giao nộp theo biên lai thu tiền số 0007935 ngày 02 tháng 01 năm 2025 tại chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo có mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST Lê Van K - Buôn bán hàng cấm
