Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Cương và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân, Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn An K (Tên gọi khác: Không có); Căn cước công dân số: [...]; Sinh ngày 02/12/1994, tại tỉnh Quảng Tri; Nơi thường trú: Khu phố D, phường B; thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và bà Phạm Thị H (đã chết); Vợ, con: chưa có; Gia đình có 02 anh chị em ruột, bị can là con thứ hai;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 01 tiền án.

*Nhân thân:

- Ngày 28/10/2011, bị Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị đưa vào trường Giáo dưỡng theo quyết định số 727/QĐ- CT;

- Ngày 14/9/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội” Cướp tài sản” theo bản án số 16/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023.

Bị bắt quả tang, sau đó bị tam giữ từ ngày 23/07/2024, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H cho đến nay; Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Thiên T1, sinh năm 1996; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: P Chung cư N, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  2. Anh Lê Thanh C, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: P Chung cư N, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  3. Anh Võ Tùng D, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện nay: P Chung cư N, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  4. Chị Huỳnh Ngọc Gia H1 sinh năm 1998; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: P Chung cư N, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.
  5. Chị Trần Phương Tuyết C1, sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: P Chung cư N, phường A, quận T, thành phố H; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: A H, phường A, quận T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19 tháng 7 năm 2024, Nguyễn An K đi xe khách ra Quảng Trị gặp một người nam thanh niên (không biết họ tên địa chỉ) để mua 1 túi (khoảng 150 viên) ma túy hồng phiến với giá tiền 3.000.000 đồng. Sau khi mua xong thì K đưa về nhà tại khu phố D, phường B; thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. K có lấy ra sử dụng khoảng 10 viên ma tuý hồng phiến. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024, K mang theo số ma túy còn lại và đón xe khách vào Huế, đến ở P chung cư N, phường A, thành phố H (nay là quận T), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) (phòng do K và bạn gái Huỳnh Ngọc Gia H1, sinh năm 1998, thường trú tại Ấp F, xã L, huyện B, tỉnh Long An) thuê để chung sống như vợ chồng).

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024, K liên lạc rủ Đỗ Thiên T1 (sinh năm 1996, thường trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị), Võ Tùng D (sinh năm 1999, thường trú tại Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị) ghé phòng K để sử dụng ma túy. K lấy gói ma túy đã mua đổ vào chai thủy tinh màu nâu, số ma túy còn lại K để trên nền nhà bên cạnh chai thủy tinh. K lấy chai nhựa có gắn ống hút để sử dụng ma túy. Khi T1 và D xuống phòng K thấy K đang ngồi trên nền nhà và có ma túy nên cùng vào sử dụng ma túy với K. Lúc này trong phòng K có bạn gái K là Huỳnh Ngọc Gia H1 và thêm 2 người khác là Trần Phương Tuyết C1 (sinh năm 1998, thường trú tại Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang), Lê Thanh C (sinh năm 1997, thường trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị) đang ngủ trong các phòng ngủ. K sử dụng ma túy một lúc rồi đi vào phòng ngủ của Huỳnh Ngọc Gia H1. Lê Thanh C ở phòng ngủ đi ra thấy T1 và D đang sử dụng ma túy thì tự mình đến lấy ma túy sử dụng. K vào phòng ngủ một lúc rồi quay lại sử dụng ma túy.

Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại P, chung cư N, phường A, thành phố H (nay là quận T), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H (nay là quận T) phối hợp Công an phường A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn An K, Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D, Trần Phương Tuyết C2, Huỳnh Ngọc Gia H1 vì đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an thu giữ trên nền nhà các đối tượng đang ngồi có 01 (một) lọ thủy tỉnh hình trụ tròn màu nâu, có nắp nhựa màu đen bị thủng 1 lỗ trên nắp, bên trong chứa 58 (năm mươi tám) viên nén màu đỏ và 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút. Nguyễn An K, Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1 và Vô Tùng D khai nhận 58 (năm mươi tám) viên nén màu đỏ là ma túy loại hồng phiến của K mua về sau đó rủ cả nhóm cùng sử dụng.

Qúa trình khám xét Phòng 707 chung cư N, phường A, thành phố H (nay là quận T), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), Cơ quan Công an thu giữ 01 túi ni lông màu xanh có viền màu đỏ bên trong có chứa 63 (sáu mươi ba) viên nén màu đỏ tại ngăn kéo tủ tivi ở phòng khách. Số ma túy này K khai nhận là của K, đang để ở giữa nền nhà để sử dụng, khi Cơ quan Công an gõ cửa thì K lấy túi ni lông màu xanh có viền màu đó bên trong có chứa 63 (sáu mươi ba) viên ma túy hồng phiến này cất giấu tại ngăn kéo tủ tivi ở phòng khách, K tự nguyện lấy ra giao nộp cho Cơ quan Công an khi khám xét.

Toàn bộ số ma túy đã thu giữ nêu trên (121 viên ma túy dạng hồng phiến) do K mua cho cả nhóm sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết thì bị phát hiện thu giữ trong quá trình bắt quả tang và lúc khám xét khẩn cấp K tự nguyện giao nộp.

Đối với Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D, Trần Phương Tuyết C1, Huỳnh Ngọc Gia H1 ngay sau khi lập biên bản bắt quả tang xác định các đối tượng này không có hành vi phạm tội hoặc giúp sức cho K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật.

Sau khi bắt quả tang, tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn An K, Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D kết quả đều dương tính với chất ma túy. Trần Phương Tuyết C1, Huỳnh Ngọc Gia H1 kết quả đều âm tính với chất ma túy.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) lọ thủy tinh hình trụ tròn màu nâu, có nắp nhựa màu đen bị thùng 1 lỗ trên nắp bên trong chứa 58 (năm mươi tám) viên nén màu đỏ, có biên bản niêm phong kèm theo.
  • - 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút.
  • - 01 túi ni lông màu xanh có viền màu đỏ bên trong chứa 63 (sáu mươi ba viên nén màu đỏ).
  • - 01 điện thoại di động Sam Sung số IMEI: 350246/95/651440/9.

* Tại kết luận giám định số 525 ngày 28/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (nay là thành phố H) kết luận:

“1. 58 (Năm mươi tám) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đó trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định (nêu tại mục 1.1, phần II) có tổng khối lượng là 5,6471g (Năm phẩy sáu bốn bảy một gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

2. 63 (Sáu mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định (nêu tại mục 1.2, phần II) có tổng khôi lượng là 6,1179g (Sáu phẩy một một bảy chín gam), là ma túy, loại Methamphetamine."

Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giảm định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ, gồm:

  • + 5,4471g (Năm phẩy bốn bốn bảy một gam) mẫu bột được nghiền từ 58 (Năm mươi tám) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A1;
  • + 5,9179g (Năm phẩy chín một bảy chín gam) mẫu bột được nghiền từ 63 (Sáu mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A2;
  • + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 03 (ba) chữ ký của giám định viên Trần Nam, 03 (ba) chữ ký của điều tra viên Lê N, 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H3 mẫu vật vụ Nguyễn An K và 05 người khác, bắt ngày 22/7/2024", (BL: 26-28...)

* Về xử lý vật chứng:

+ Đối với các vật chứng nêu trên hiện đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn An K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSQTH ngày 13/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn An K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn An K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên:

Tịch thu tiêu hũy:

  • -Đối với 5,4471g (năm phẩy bón bốn bảy một gam) mẫu bột được nghiền từ 58(Năm mơi tám) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A1.
  • - Đối với 5,9179g (năm phẩy chín một bảy chín gam) mẫu bột được nghiền từ 63(Sáu mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A2.
  • - 01 chai nhựa có gắn ống hút.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung số IMEI: 350246/95/651440/9.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn An K thấy rằng: Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại P, chung cư N, phường A, thành phố H (nay là quận T), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), Nguyễn An K có hành vi tổ chức cho Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D và bản thân mình sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Công an thành phố H (nay là Công an quận T) phát hiện bắt quả tang, thu giữ khối lượng ma túy mà các đối tượng chưa kịp sử dụng hết là 11,7650g (Mười một phẩy bảy sáu năm không gam) ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Nguyễn An K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn An K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn An K thực hiện hành vi phạm tội khi có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý trực tiếp. Mặc dù nhận thức được ma túy là một loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn bất chấp, cố ý chuẩn bị ma túy và công cụ sử dụng để rủ rê, tổ chức cho bản thân cùng T1, D và C sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Do vậy, hành vi của bị cáo nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Xét hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ huỷ hoại sức khoẻ, thoái hoá nhân cách, hành vi này còn là nơi bắt nguồn cho các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung đối với xã hội.

[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn An K là người có nhân thân xấu, Ngày 28/10/2011 Bị Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị đưa vào Trường giáo dưỡng theo quyết định số 727/QĐ- CT; Ngày 14/9/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội” Cướp tài sản” theo bản án số 16/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023. Tuy nhiên bị cáo không chịu lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng những người khác.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn An K có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có ông ngoại là liệt sĩ, ông nội được tăng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tại phiên tòa là có căn cứ.

[5] Các vấn đề khác:

  • - Đối với người bán ma túy cho K, K khai nhận không biết rõ họ tên, nhân thân lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
  • - Đối với Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D không góp tiền mua ma túy, không chuẩn bị các công cụ, phương tiện cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không xào kẻ ma túy, không có hành vi gì giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm, không phạm tội. Cơ quan Công an thành phố H (nay là quận T) đã xử phạt hành chính đối với Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với Trần Phương Tuyết C1, Huỳnh Ngọc Gia H1 không có hành vi gì giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm, không phạm tội.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 5,4471g (năm phẩy bón bốn bảy một gam) mẫu bột được nghiền từ 58(Năm mươi tám) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A1;
  • + Đối với 5,9179g (năm phẩy chín một bảy chín gam) mẫu bột được nghiền từ 63(Sáu mươi ba) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ trong phong bì niêm phong ký hiệu A2;

Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Đối với điện thoại di động hiệu Samsung số IMEI: 350246/95/651440/9 thu giữ của Nguyễn An K. Quá trình điều tra làm rõ, bị cáo K sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm b,h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn An K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn An K 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 23/07/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

    - Tịch thu, tiêu hủy:

    • + 5,4471g (Năm phẩy bốn bốn bảy một gam) mẫu bột được nghiền từ 58 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ.
    • + 5,9179g ( Năm phẩy chín một bảy chín gam) mẫu bột nghiền từ 63 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ.
    • + Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định

    Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 03 chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 03 chữ ký của Điều tra viên Lê N, 03 dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “ H3 mẫu vật vụ Nguyễn An K và 05 người khác, bắt ngày 22/7/2024".

    - 01 chai nhựa có gắn ống hút.

    - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Sam Sung, I: 750246/95/651440/9.

    Các vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án quận Thuận Hóa, thành phố H.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn An K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị C1) có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T1, anh D, anh C, chị H1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tp Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp thành phố Huế;
  • - CQCSĐT Công an tp Huế;
  • - CQ THAHS thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS quận Thuận Hóa, thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2025/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại P, chung cư N, phường A, thành phố H (nay là quận T), tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), Nguyễn An K có hành vi tổ chức cho Lê Thanh C, Đỗ Thiên T1, Võ Tùng D và bản thân mình sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Công an thành phố H (nay là Công an quận T) phát hiện bắt quả tang, thu giữ khối lượng ma túy mà các đối tượng chưa kịp sử dụng hết là 11,7650g (Mười một phẩy bảy sáu năm không gam) ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Nguyễn An K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger