Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EAKAR

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 02 - 2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng, bà Nguyễn Thị Tuyết.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 477/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm 1, thôn G, xã Hương T, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Hồ Thức H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn M, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 03/10/2024, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà T và ông Hồ Thức H có đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/2015 tại UBND xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huê trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông H có hành vi đánh đập, xúc phạm bà T nhiều lần, đã được 02 bên giai đình hòa giải nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được nên đã sống ly thân từ tháng 4/2019 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn ông Hồ Thức H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông H có 01 con chung là Hồ Nguyễn Hà L sinh ngày 20/11/2015, hiên nay con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu ông Hồ Thức H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà T và ông H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng ông Hồ Thức H vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Bị đơn ông Hồ Thức H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông H vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H là đúng quy định của pháp luật.
  • Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị HĐXX tuyên xử cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn ông Hồ Thức H.
  • Về con chung: Giao con chung, Hồ Nguyễn Hà L, sinh ngày 20/11/2015 cho bà Nguyễn Thị Thanh T được tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
  • Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêucầu ông Hồ Thức H phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Hồ Thức H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS, đây là yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn hiện đang cư trú tại huyện EaKar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Hồ Thức H là bị đơn trong vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án, ông H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ nhưng ông H vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Thức H.

Bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thanh T.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hồ Thức H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/2015 tại UBND xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Qua lời trình bày của bà T, cũng như qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định: Nguyên nhân mẫu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông H có hành vi đánh đập, xúc phạm bà T nhiều lần, đã được 02 bên giai đình hòa giải nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được nên đã sống ly thân từ tháng 4/2019 cho đến nay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên bà T về đoàn tụ cùng ông H nhưng không thành, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn ông Hồ Thức H. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hồ Thức H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xử cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn ông Hồ Thức H.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T và ông H có 01 con chung Hồ Nguyễn Hà Linh, sinh ngày 20/11/2025, hiện nay đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn, bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Con chung Hồ Nguyễn Hà L cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, HĐXX cần chấp nhận nguyện vọng của bà T về con chung. Giao con chung, Hồ Nguyễn Hà L, sinh ngày 20/11/2015 cho bà Nguyễn Thị Thanh T được tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêucầu ông Hồ Thức H phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
    • - Quan hệ về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn ông Hồ Thức H.
    • - Về con chung: Giao con chung Hồ Nguyễn Hà L, sinh ngày 20/11/2015 cho bà Nguyễn Thị Thanh T được tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu ông Hồ Thức H phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0000821 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện EaKar;
  • - T.H.A dân sự huyện EaKar;
  • - UBND xã Hương Toàn thị xã Hương Trà
  • tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cường Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn ông H và yêu cầu được trực tiêp nuôi dưỡng con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger