Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 125/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/9/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Khưu Liên Dung.
  • Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Muội - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 351/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Phan Văn T – sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Số D, đường H, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1997. Địa chỉ: Nhà không số, đường K, Khóm F, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Anh T, chị N vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Văn T trình bày: Anh T và chị N tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẩn do vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải làm cho mục đích hôn nhân không đạt được nên từ năm 2020 chị N đã về nhà mẹ ruột tại Nhà không số, đường K, Khóm F, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh xác định vợ chồng không thể sống chung được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.

Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị N có 01 con chung là cháu Phan Thị Tuyết M, sinh ngày 25/5/2018, hiện tại cháu đang sống cùng anh, khi ly hôn anh T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Yến N nhưng chị N đều vắng mặt và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Văn T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  • - Về nội dung: Anh T và chị N chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng đến nay đã xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được, cũng đã sống ly thân một thời gian nhưng không hàn gắn được mâu thuẫn, nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.
  • Về con chung: Hiện nay cháu Phan Thị Tuyết M đang sống với anh T, cũng nhằm tránh xáo trộn tâm lý của cháu, nên chấp nhận giao cháu M cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Do các đương sự không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí hôn nhân gia đình: Anh T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phan Văn T yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Yến N có nơi cư trú tại Nhà không số, đường K, Khóm F, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phan Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 22/8/2024 nộp tại Tòa án, xét thấy đơn xin xét xử vắng mặt của anh T là hoàn toàn tự nguyện và không trái với pháp luật, nên được chấp nhận. Quá trình Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý vụ án đã triệu tập, thông báo cho chị Nguyễn Thị Yến N tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và triệu tập xét xử nhưng chị Nguyễn Thị Yến N đều vắng mặt, kể cả ngày hôm nay (ngày 25/9/2024); cho thấy chị Nguyễn Thị Yến N cố tình trốn tránh. Căn cứ khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự; áp dụng Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn anh Phan Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.

[3.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn T và chị Nguyễn Thị Yến N tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2018, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32, vào ngày 27/5/2019 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo anh T xác định quá trình chung sống vợ chồng thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có được tiếng nói chung trong gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống với nhau nên từ đầu năm 2020 chị N đã bỏ về nhà mẹ ruột tại Nhà không số, đường K, Khóm F, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu sinh sống cho đến nay. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, triệu tập chị N đến Tòa án, nhưng chị N đều không có ý kiến cũng như không đến Tòa án, cho thấy chị N không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh T. Ngoài ra, tại biên bản xác minh, đại diện chính quyền địa phương nơi chị N sinh sống xác nhận chị N và anh T có xảy ra mâu thuẫn hôn nhân hay không thì chính quyền không nắm được do không ai trình báo với địa phương nhưng giữa anh T, chị N có sống ly thân là xảy ra thực tế, chị N đã về nhà cha mẹ ruột tại Nhà không số, đường K, Khóm F, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu sống từ năm 2020 cho đến nay nhưng cả hai đều không có biện pháp hàn gắn, chị N về nhà cha mẹ ruột và cả hai không sống chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, chỉ vì bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng mà cả hai không có biện pháp hàn gắn, làm cho đời sống vợ chồng ngày càng xa cách hơn, đời sống chung không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Văn T đối với chị Nguyễn Thị Yến N như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ.

[3.2] Về con chung: Theo lời trình bày của anh T phù hợp với giấy khai sinh và biên bản xác minh của chính quyền địa phương cho thấy giữa anh T và chị N chung sống với nhau có 01 người con chung là cháu Phan Thị Tuyết M, sinh ngày 25/5/2018; Hội đồng xét xử xét thấy cháu M hiện đang sống cùng với anh T, để không làm xáo trộn đời sống của cháu, vì vậy cần giao cháu Phan Thị Tuyết M cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định pháp luật. Chị Nguyễn Thị Yến N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh T, không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, anh T vẫn có quyền yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

[3.3] Về tài sản chung: Anh T xác định anh và chị N không có tài sản chung, không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3.4] Về nợ chung: Anh T xác định anh và chị N không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[5] Về án phí: Anh Phan Văn T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 227, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Yến N.
  2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Tuyết M, sinh ngày 25/5/2018 cho anh Phan Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, (hiện tại cháu M đang sống chung với anh T nên được giữ nguyên). Chị Nguyễn Thị Yến N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị Yến N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
  3. Về tài sản chung: Anh Phan Văn T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Anh Phan Văn T xác định vợ chồng không có nợ tài sản gì của ai và không ai nợ tài sản gì của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình anh Phan Văn T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Phan Văn T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002996 ngày 05/8/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Án sơ thẩm xử công khai, anh Phan Văn T, chị Nguyễn Thị Yến N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Khưu Liên Dung

Lâm Thị Nguyệt Hồ

Bùi Công Bằng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 125/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger