Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày: 25 – 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Khắc Chung

Bà Nguyễn Thị Thu Sương

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 08/TB-TA, ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 10/5/1983, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1966; gia đình bị cáo có 05 (năm) anh, em ruột, bị cáo là người thứ ba; Không có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 30/8/2024 bị Ủy ban nhân dân phường N áp dụng Quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 30/8/2024 đến ngày 30/8/2025. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/11/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Lê Bé T, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Tổ A, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Những người làm chứng: Ông Bùi Hữu N (vắng mặt), ông Võ Văn S (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 08/11/2024, Nguyễn Hoàng  sinh năm 1983, nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (sống lang thang) đi bộ đến nhà ông Lê Bé T thuộc khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang thì phát hiện xe môtô biển số 67E1-461.04 của ông T đang đậu trước nhà và để chìa khoá trên giường, quan sát thấy không có người trông coi nên  vào lấy chìa khoá nổ máy lên xe điều khiển xe chạy được khoảng 08 mét thì ông T phát hiện, truy hô cùng Bùi Hữu N, Võ Văn S bắt giữ  cùng tang vật giao Công an thị trấn V tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định: 01 (một) xe mô tô biển số 67E1-461.04; số loại: Wave; nhãn hiệu: HONDA, màu xanh đen bạc, giá trị định giá tài sản 12.000.000 đồng.

Bị hại ông Lê Bé T, người làm chứng Bùi Hữu N, Võ Văn S trình bày nội dung phù hợp với nội dung vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKSCP ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng  về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Hoàng  thừa nhận có hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo, sửa chữa, làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú trình bày lời luận tội, giữ nguyên truy tố như Cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng  như sau:

  • - Áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù, tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 08/11/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Về vật chứng và biện pháp tư pháp: quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng theo quy định.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, kiểm sát viên: Thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 50 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi được thực hiện tại huyện C, tỉnh An Giang. Vụ án được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C kết thúc điều tra. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy tại Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1.3] Đối với người tham gia tố tụng: Người bị hại Lê Bé T, người làm chứng trong vụ án gồm: Bùi Hữu N, Võ Văn S đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như qua tranh tụng tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 08/11/2024, Nguyễn Hoàng  sinh năm 1983, nơi cư trú: Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (sống lang thang) đi bộ đến nhà ông Lê Bé T thuộc khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang thì phát hiện xe môtô biển số 67E1-461.04 của ông T đang đậu trước nhà và để chìa khoá trên giường, quan sát thấy không có người trông coi nên  vào lấy chìa khoá nổ máy lên xe điều khiển xe chạy được khoảng 08 mét thì ông T phát hiện, truy hô cùng Bùi Hữu N, Võ Văn S bắt giữ  cùng tang vật giao Công an thị trấn V tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Thấy rằng, tại thời điểm bị cáo  thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác nhưng đã cố ý lấy trộm nhằm chiếm đoạt để sử dụng, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự công cộng và là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của  đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng  là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 173. Bộ luật Hình sự quy định: Tội “Trộm cắp tài sản

  1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a)...;

  2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

[2.2] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Â:

Chúng ta đều biết tài sản được tạo ra bằng trí tuệ và sức lao động của con người, vì vậy quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của mỗi cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của công dân đều bị pháp luật trừng trị nghiêm minh, kịp thời.

Xét thấy, đây là vụ án ít nghiêm trọng; Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, có khả năng lao động tạo ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân và gia đình thế nhưng chỉ vì tính lười biếng, ăn chơi, không muốn làm nhưng lại muốn hưởng thụ, mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác.

Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản, làm mất an ninh trật tự ở địa phương. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc mới có đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và cảnh tỉnh cho những ai xem thường pháp luật, nhất là đối với tội phạm trộm cắp tài sản đang diễn ra ngày càng phức tạp như hiện nay.

[2.3] Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Â:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo về nhân thân chưa tiền án, tiền sự nhưng đang bị áp dụng cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bởi Quyết định số 304/QĐ-UBND ngày 30/8/2024 của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nên nhận thấy bị cáo là người có nhân thân xấu; bị cáo đã thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng tài sản đã được trả cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần lao động nghèo, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế thuộc điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng có xem xét áp dụng để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án có lời trình bày hiện đã nhận lại tài sản bị mất trộm vào ngày 15/11/2024, ngoài ra không yêu cầu bồi thường cũng như không yêu cầu bồi thường thiệt hại khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng  phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng  01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng  phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Phú;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Châu Phú;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (khi án có hiệu lực);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Văn phòng, Thi hành án hình sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Ân phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Ân 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger