|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 24-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Lọt, ông Bùi Văn Ơn
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Phượng- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 24/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Quách Phương L, sinh năm 1994 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Ấ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn T, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị S, sinh năm 1963; chồng là Bùi Văn T1, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 02/2025/HSST-LCĐKNCC ngày 23/01/2025. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Quách Phương L là bà Nguyễn Thị Thu T2- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Bùi Thị X là chị Bùi Thị V, sinh năm 1987. Địa chỉ: xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Bùi Thị X là ông Bùi Văn M- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt;
- Nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bùi Văn T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm Á, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình- Có mặt;
- + Lê Ngọc T3, sinh năm 1996. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa- Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Người làm chứng:
- + Bùi Văn N, sinh năm 1996. Vắng mặt;
- + Bùi Văn T4, sinh năm 1985. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 07/08/2024, Quách Phương L đi từ thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình về nhà tại xóm Á, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình trên đường tuyến C theo hướng N - M. Đến khoảng 17 giờ 50 phút, khi đi đến Km11 + 800m thuộc địa phận xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, L điều khiển xe mô tô đi song song với xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87 do Bùi Thị X điều khiển cùng chiều. Xe của L đi bên trái, xe bà X đi bên phải thì phát hiện phía trước có xe ô tô biển kiểm soát 36K – 078.26 do Lê Ngọc T3 điều khiển đi ngược chiều. Ngay lúc đó, L điều khiển xe của mình vượt xe do bà X điều khiển. Quá trình vượt xe, phần mặt ngoài đuôi ống xả và chắn bùn bánh sau của xe mô tô do L điều khiển đã va quyệt vào phần bánh trước bên trái của xe mô tô do X điều khiển dẫn đến xe mô tô của X điều khiển bị mất lái, đổ nghiêng sang bên phải lao ra phần đường bên trái và đâm vào phần đầu xe bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 36K – 078.26 do anh T3 điều khiển gây ra tai nạn giao thông. Bà X bị ngã trượt trên mặt đường theo xe mô tô, văng vào phía gầm xe ô tô do anh T3 điều khiển. Hậu quả bà X tử vong trên đường đi cấp cứu, các phương tiện liên quan bị hư hỏng (BL số 01, 300-327; 346-355).
Căn cứ vào vị trí của các phương tiện, dấu vết tại hiện trường xác định:
Vị trí điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 28N1 – 324.09 và xe mô tô biển kiểm soát 28FZ-155.87 tương ứng trên mặt đường là nằm ở phần đường bên trái theo hướng M - N. Từ đến mép đường chuẩn là 4,80m.
Vị trí điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 28FZ-155.87 và xe ô tô biển kiểm soát 36K -078.26 tương ứng trên mặt đường là nằm ở phần đường bên phải theo hướng M - N, đến mép đường chuẩn là 1,80m.
Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 28N1 – 324.09 và xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87 là: Phần mặt ngoài ống xả, chắn bùn bánh sau của xe mô tô biển kiểm soát 28N1 – 324.09 trong quá trình vượt xe đã va chạm vào phần bánh trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87.
Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87 và xe ô tô BKS: 36K – 078.26 là: Phần bánh trước, đầu xe của xe mô tô, biển kiểm soát 28FZ – 155.87 va chạm vào phần ba đờ sốc, đầu xe bên trái của xe ô tô, biển kiểm soát 36K – 078.26. (BL số 13-17; 52-53; 64-65; 71-72; 186-189).
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 399/KLGĐTT - PC09 - CAT, ngày 14/08/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não (BL 49-50).
Bản kết luận định giá tài sản số: 873/KL - HĐĐGTTS ngày 17/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân huyện L, kết luận: Xe ô tô, biển kiểm soát 36K – 078.26 bị hư hỏng do tai nạn, tại thời điểm định giá bị thiệt hại là: 3.550.000₫ (ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) (BL 162-163).
Bản kết luận định giá tài sản số: 874/KL - HĐĐGTTS ngày 17/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân huyện L, kết luận: Xe mô tô, biển kiểm soát 28N1 – 324.09 bị hư hỏng do tai nạn, tại thời điểm định giá bị thiệt hại là: 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) (BL 166-167).
Bản kết luận định giá tài sản số: 875/KL – HĐĐGTTS ngày 17/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy Ban nhân dân huyện L, kết luận: Xe mô tô, biển kiểm soát 28FZ – 155.87 bị hư hỏng do tai nạn, tại thời điểm định giá bị thiệt hại là: 1.533.000₫ (một triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng) (BL169-170).
Bản kết luận giám định về An toàn kỹ thuật của xe ô tô BKS: 36K–078.26 số: 577/KL - KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: “Phanh hoạt động bình thường (còn tác dụng); Hệ thống lái hoạt động bình thường; Còi hoạt động bình thương; Đ xi nhan hai bên, trước và sau hoạt động bình thường; Đèn pha cốt phía trước, đèn báo phía sau hoạt động bình thường” (BL 149).
Bản kết luận giám định số: 6297/KL-KTHS ngày 21/08/2024 của V1 - Bộ C, kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của nạn nhân Bùi Thị X (sinh năm: 1964, trú tại xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn)." (BL 87).
Bản kết luận giám định số: 6293/KL-KTHS, ngày 23/08/2024 của V1 - Bộ C, kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bùi Thị X gửi giám định.” (BL 90).
Bản kết luận giám định số: 459/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định” (BL số 116).
Kết quá kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Quách Phương L và Lê Ngọc T3 là: 0.000mg/L.
Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện, khám nghiệm tử thi và các tài liệu điều tra đã thu thập được xác định: nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do Quách Phương L điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông không tuân thủ Luật giao thông đường bộ. Vi phạm nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ quy định tại khoản 5 Điều 4. Tại khoản 5 Điều 4 Luật giao thông đường bộ quy định:
“...
5. Người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác. Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đảm bảo an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
...”
+ Vi phạm quy định về vượt xe, quy định tại Điều 14 - Luật giao thông đường. Tại khoản 2 Điều 14 - Luật giao thông đường bộ, quy định: “……… Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.”
+ Vi phạm quy định các trường hợp không được vượt xe quy định tại điểm c khoản 5 Điều 14 - Luật giao thông đường bộ. Tại điểm c khoản 5 Điều 14 - Luật giao thông đường bộ, quy định: “….. Đường vòng, đầu dốc, và các vị trí có tầm nhìn hạn chế".
Quá trình điều tra Quách Phương L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, không có động cơ, mục đích phạm tội.
Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do bị cáo điều khiển phương tiện chủ quan không chú ý quan sát.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Quách Phương L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo;
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ những vật chứng gồm:
- + 01 (một) xe ô tô, biển kiểm soát 36K – 078.26;
- + 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 28FZ – 155.87;
- + 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 28NI – 324.09.
Và các loại giấy tờ có liên quan của xe.
Xét thấy việc trả lại vật chứng nêu trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trả lại cho các chủ sở hữu theo quy định pháp luật. Xét thấy, việc xử lý vật chứng trên phù hợp Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
Về phần dân sự: Quách Phương L đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Bùi Thị X với tổng số tiền là: 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Hiện bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Ngoài ra, Lê Ngọc T3 đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân Bùi Thị X tổng số tiền là: 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Đối với chiếc xe mô tô BKS 28N1 – 324.09, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Bùi Văn T1, sinh năm 1990, nơi cư trú xóm Á, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (là chồng của bị cáo Quách Phương L), xe có giấy tờ và đăng ký xe. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe, chủ sở hữu xe không có yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 28FZ – 155.87, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Bùi Thị X, xe có đầy đủ giấy tờ theo quy định là xe có dung tích xi lanh dưới 50cm. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe, người đại diện hợp pháp của bà X không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36K – 078.26, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lê Ngọc T3, sinh năm 1996, nơi cư trú thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, xe có giấy tờ và đăng ký xe. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe ô tô, chủ sở hữu xe không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm hình sự của Lê Ngọc T3- là người điều khiển xe ô tô, BKS: 26K – 078.26 tham gia giao thông có đủ giấy tờ xe, giấy phép lái xe theo quy định, đi đúng phần đường và tốc độ theo quy định. Thời điểm xảy ra va chạm với xe mô tô do bà Bùi Thị X điều khiển, Lê Ngọc T3 đang lưu thông trên phần đường của mình thì bất ngờ xe mô tô của Bùi Thị X điều khiển đi hướng ngược chiều bị mất lái, ngã lao ra phần đường của xe đi ngược chiều. Do khoảng cách quá gần, nên xe Lê Ngọc T3 đã va chạm vào xe của Bùi Thị X gây ra tai nạn giao thông, đây là sự kiện bất ngờ nên đề nghị HĐXX xác định Lê Ngọc T3 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Người bào chữa của bị cáo thống nhất về tội danh và căn cứ áp dụng pháp luật như Kiểm sát viên đề nghị. Với luận cứ cho rằng: xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân bị cáo đang mang thai. Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là đã thể hiện được tính răn đe, sự nghiêm minh của pháp luật đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục lao động, sinh hoạt với gia đình. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quan điểm của người bảo vệ cho bị hại Bùi Thị X: Từ hành vi bất cẩn của bị cáo mà bị hại và gia đình đã phải gánh chịu thiệt hại vô cùng lớn. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là vô ý, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có trách nhiệm khắc phục toàn bộ hậu quả nên để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương tôi nhất trí về tội danh và áp dụng pháp luật như Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị hại nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn; lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo; luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của đại diện bị hại; người làm chứng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Quách Phương L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân có giấy phép lái xe moto hợp lệ nhưng không tuân thủ đúng các quy định của Luật giao thông đường bộ nên vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 07/08/2024, tại đoạn đường thuộc Km11+800m đường Tuyến C thuộc địa phận xóm Đ, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, bị cáo L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28N1 – 324.09 vượt xe trong điều kiện không đảm bảo an toàn nên va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87 do bà Bùi Thị X điều khiển, dẫn đến xe mô tô do bà X điều khiển đã bị đổ xuống đường và tiếp tục va chạm với xe ô tô BKS 36K - 078.26 đi ngược chiều do Lê Ngọc T3 điều khiển. Hậu quả bà X tử vong, các phương tiện bị hư hỏng.
Hành vi nêu trên của Quách Phương L vi phạm khoản 5 Điều 4; khoản 1 Điều 1; khoản 2, điểm c khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước về việc lập lại trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức rõ sự nguy hiểm của tai nạn giao thông song cho rằng hậu quả không xảy ra nên đã chủ quan không tuân thủ các quy tắc về giao thông nên đã gây hậu quả làm chết 01 người. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đề thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả; bị cáo là người có nhân thân tốt; bản thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội với lỗi vô ý; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đủ điều kiện để bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo. Do đó, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[5] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ những vật chứng gồm:
- + 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 36K – 078.26;
- + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 28FZ – 155.87;
- + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 28NI – 324.09.
Và các loại giấy tờ có liên quan của xe.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trả lại vật chứng trên cho các chủ sở hữu theo quy định pháp luật. Xét thấy, việc xử lý vật chứng trên phù hợp Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên HĐXX chấp nhận và không xem xét trong vụ án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quách Phương L đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Bùi Thị X với tổng số tiền là: 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm. Xét việc thoả thuận nêu trên phù hợp Điều 48 Bộ luật Hình sựĐiều 584, Điều 585; Điều 586, Điều 590, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự nên HĐXX chấp nhận và không xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với bị hại.
Ngoài ra, Lê Ngọc T3 đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình nạn nhân Bùi Thị X tổng số tiền là: 75.000.000 ₫ (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Đối với chiếc xe mô tô BKS 28N1 – 324.09, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Bùi Văn T1, sinh năm 1990, nơi cư trú xóm Á, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (là chồng của bị cáo Quách Phương L), xe có giấy tờ và đăng ký xe. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe, chủ sở hữu xe không có yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 28FZ – 155.87, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Bùi Thị X, xe có đầy đủ giấy tờ theo quy định là xe có dung tích xi lanh dưới 50cm. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe, người đại diện hợp pháp của bà X không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36K – 078.26, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Lê Ngọc T3, sinh năm 1996, nơi cư trú thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, xe có giấy tờ và đăng ký xe. Phần bị hư hỏng do tai nạn của chiếc xe ô tô, chủ sở hữu xe không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về trách nhiệm hình sự của Lê Ngọc T3- là người điều khiển xe ô tô, BKS: 26K – 078.26 tham gia giao thông có đủ giấy tờ xe, giấy phép lái xe theo quy định, đi đúng phần đường và tốc độ theo quy định. Thời điểm xảy ra va chạm với xe mô tô do bà Bùi Thị X điều khiển, Lê Ngọc T3 đang lưu thông trên phần đường của mình thì bất ngờ xe mô tô của Bùi Thị X điều khiển đi hướng ngược chiều bị mất lái, ngã lao ra phần đường của xe đi ngược chiều. Do khoảng cách quá gần, nên xe Lê Ngọc T3 đã va chạm vào xe của Bùi Thị X gây ra tai nạn giao thông, đây là sự kiện bất ngờ nên Lê Ngọc T3 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Phương L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Quách Phương L 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 24/02/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Hình sự: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp cho bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Phương Loan
