|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 24-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tẻo
Bà Lê Thị Sinh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Quốc Sĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án:
- Bản án số 78/2016/HSST ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn Đ 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2017, đã nộp án phí, chưa chấp hành phần nộp tiền thu lợi bất chính;
- Bản án số 47/2020/HS-ST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Văn Đ 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2023, chưa bồi thường thiệt hại; chưa chấp hành án phí sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Tiền sự: không có; nhân thân: ngày 03/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 46/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành quyết định là 18 tháng, chấp hành xong ngày 30/9/2019 (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/10/2024, Nguyễn Văn Đ uống cà phê tại khu vực thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), biết Đ đang cần việc làm nên người này thuê Đ vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực Công viên khu dân cư T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đến khu vực Khu công nghiệp T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh với tiền công 300.000 đồng/01 chuyến thì Đ đồng ý. Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 23/10/2024, người đàn ông nói trên gọi điện thoại kêu Đ đến khu vực Công viên khu dân cư T để nhận thuốc lá và vận chuyển đến khu vực Khu công nghiệp T. Theo hướng dẫn của người đàn ông, Đ điều khiển xe môtô biển số 70H3-5360 đến điểm hẹn thì nhìn thấy đã để sẵn 05 túi nylon màu đen bên trong có tổng cộng 1.600 bao thuốc lá gồm: 1.050 bao nhãn hiệu 555; 400 bao nhãn hiệu Camily; 150 bao nhãn hiệu Teton . Đệ chất thuốc lá để lên xe môtô biển số 70H3-5360 rồi điều khiển xe đi giao thuốc lá. Khi đang điều khiển xe đến khu vực ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an huyện B kiểm tra, bắt quả tang lúc 19 giờ 15 phút cùng ngày.
* Tài liệu, đồ vật thu giữ:
- 1600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, gồm: 1.050 bao nhãn hiệu 555, 400 bao nhãn hiệu Camily, 150 bao nhãn hiệu Teton;
- 01 xe mô tô biển số 70H3-5360, số khung VH110201001007, số máy 1P53FMH10060217 (đã qua sử dụng);
- 05 túi nylon màu đen (đã qua sử dụng).
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSBC ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm 1 khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm 1 khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 03 năm tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản.Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: ngày 23/10/2024, Nguyễn Văn Đ đã thực hiện hành vi vận chuyển thuê cho người cho người khác (không rõ nhân thân) 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 1.050 bao nhãn hiệu 555; 400 bao nhãn hiệu Camily; 150 bao nhãn hiệu Teton đi từ khu vực Công viên khu dân cư T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đến khu vực Khu công nghiệp T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh với tiền công 300.000 đồng/01 chuyến thì bị bắt quả tang tại khu vực ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
[3] Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự, đây là tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo. Do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Vận chuyển hàng cấm", với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
[4] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với 1600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm: 1.050 bao nhãn hiệu 555, 400 bao nhãn hiệu Camily, 150 bao nhãn hiệu Teton): là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 05 túi nylon màu đen (đã qua sử dụng): là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 01 xe mô tô biển số 70H3-5360, nhãn hiệu VINA, loại xe: hai bánh từ 50-175 cm³, số loại: C110F, dung tích xi lanh 108 cm³, số khung VH110201001007, số máy 1P53FMH10060217, xe màu hồng (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[9] Đối với người đàn ông thuê Nguyễn Văn Đ vận chuyển 1.600 bao thuốc lá do không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm 1 khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù về tội "Vận chuyển hàng cấm", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2024.
Tịch thu tiêu hủy 1600 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (gồm: 1.050 bao nhãn hiệu 555, 400 bao nhãn hiệu Camily, 150 bao nhãn hiệu Teton) và 05 túi nylon màu đen (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 70H3-5360, nhãn hiệu VINA, loại xe: hai bánh từ 50-175 cm³, số loại: C110F, dung tích xi lanh 108 cm³, số khung VH110201001007, số máy 1P53FMH10060217, xe màu hồng (đã qua sử dụng).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thúy Liễu |
Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 10/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vận chuyển hàng cấm
