|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày 21 - 02 - 2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Bảo và Bà Mai Tường Vi;
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1983; nơi thường trú: khu Q, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: anh Vũ Hữu T1, sinh năm: 1981; nơi thường trú: tổ G, khu G, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện tại: Công ty cổ phần G (số F, đường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh), có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2024, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T đều trình bày: chị và anh Vũ Hữu T1 kết hôn vào năm 2009 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố C, trước khi kết hôn anh chị có thời gian tìm hiểu nhau 01 năm. Sau khi kết hôn anh chị về sống cùng gia đình nhà chồng ở tổ G, khu G, phường Q, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng chị sau kết hôn gần như không có thời gian nào hạnh phúc nhưng chị cố gắng chịu đựng cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh T1 không chịu làm ăn, mải chơi, thường xuyên chửi bới, gây sự và đánh vợ con. Năm 2018 anh T1 nghỉ việc ở nhà không đi làm, mọi gánh nặng con cái, kinh tế, lo toan cho gia đình đều mình chị gánh vác. Đến giữa năm 2020 anh T1 ra thành phố M làm việc nhưng mỗi lần về thăm nhà vẫn thường xuyên có những lời lẽ xúc phạm và đánh chị, khi không đi làm anh T1 cũng không chăm lo cho các con và liên tục có hành động đập phá đồ đạc trong nhà, đánh vợ con khiến chị rất sợ hãi. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào ngày 12/12/2021 anh T1 đánh chửi chị và con gái lớn nên chị đã quyết định dọn ra khỏi nhà sống ly thân với anh T1 sau đó chị đưa các con về quê sinh sống cho đến nay. Quá trình sống ly thân anh T1 không liên lạc với mẹ con chị và không chu cấp tiền cho chị nuôi con chung, khoảng thời gian này chị cũng để cho anh T1 sửa sai, chị cũng đã nhiều lần gọi điện thoại, nhắn tin cho anh T1 nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng chị cũng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả, đến nay chị không còn tình cảm dành cho anh T1 nên không chấp nhận về đoàn tụ đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T1 để ổn định cuộc sống và để các con yên tâm, tập trung vào việc học tập.
+ Về con chung: chị và anh Vũ Hữu T1 có 02 con chung là Vũ Thanh T2, sinh ngày 27/7/2010 và Vũ Thảo N, sinh ngày 10/8/2017. Quan điểm của chị khi vợ chồng ly hôn, do cả hai con chung đều muốn ở cùng với chị, các con chung đều là con gái, từ khi sống ly thân chị đã đưa các con về huyện B, tỉnh Hải Dương để sống cùng gia đình nhà ngoại, các con chung đã ổn định việc sinh hoạt và học tập. Quá trình sống ly thân anh T1 cũng không chu cấp cho các con nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho các con chung. Hiện chị làm công nhân tại Công ty cổ phần T4, thu nhập bình quân 15.000.000 đồng/tháng đảm bảo nuôi dưỡng được cho cả hai con chung phát triển tốt.
+ Về tài sản và công nợ chung: chị và anh T1 trong thời gian chung sống thì ở cùng gia đình nhà nội nên không có tài sản và công nợ chung.
* Tại bản tự khai, phiên hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Hữu T1 trình bày quan điểm như sau: về thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn của vợ chồng anh đúng như chị T đã trình bày ở trên. Sau khi kết hôn anh chị về sống tại tổ G, khu G phường Q, thành phố C cùng với bố mẹ anh. Chị T trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là chưa đúng, quá trình chung sống anh không hề to tiếng, không chửi mắng, xúc phạm chị T, mâu thuẫn chỉ xảy ra từ cuối năm 2019 nguyên nhân chủ yếu là từ vấn đề kinh tế trong gia đình rất khó khăn, cả hai vợ chồng đều không có công ăn việc làm ổn định, các con đang ở độ tuổi ăn học nên có nhiều áp lực, anh chị thường xúc phạm nhau. Sau đó chị T đưa hai con về ngoại ở nên anh thấy hụt hẫng chán nán, việc làm không có, rồi mẹ anh mất nên mọi thứ xẩy ra đối với anh là rất khó khăn, do không có điều kiện kinh tế anh không liên lạc gì với vợ con một thời gian dài. Từ tháng 7/2023 anh được vào làm tại Công ty cổ phần G, đã có lương, có thu nhập ổn định anh cũng đã tìm nhiều biện pháp để hoà giải nhưng chị T không cho cơ hội. Đến nay anh muốn vợ chồng hàn gắn cùng khắc phục mâu thuẫn để về đoàn tụ, anh xác định vẫn còn tình cảm dành cho chị T và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn.
+ Về con chung: anh chị có 02 con chung như chị T trình bày, hiện nay hai con chung đều ở với chị T và đi học ở quê ngoại. Trong suốt thời gian ly hôn anh không có công việc thu nhập ổn định, bản thân lại bị bệnh nên anh chưa có điều kiện chu cấp cho các con. Do không đồng ý ly hôn nên anh không có quan điểm về con chung, hiện nay anh làm tại bộ phận bếp của Công ty cổ phần G1, thu nhập khoảng hơn 6.000.000 đồng/tháng.
+ Về tài sản và công nợ chung: không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu T, chị T được ly hôn với anh Vũ Hữu T1; về con chung: giao cả hai con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng cho con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu T yêu cầu xin ly hôn với anh Vũ Hữu T1 hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu T và anh Vũ Hữu T1 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố C vào năm 2009. Sau kết hôn, thời gian đầu anh chị về sống anh chị về sống cùng gia đình nhà chồng ở tổ G, khu G, phường Q, thành phố C. Anh chị đều khẳng định sau khi kết hôn đến năm 2019 thì phát sinh có mâu thuẫn, tuy nhiên nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của hai anh chị khai không giống nhau, chị T thì cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn chính là do anh T1 không chịu làm ăn, mải chơi, thường xuyên chửi bới, gây sự và đánh vợ con, chị T cũng tìm nhiều biện pháp, cho anh T1 cơ hội nhưng anh T1 không thay đổi, quá trình sống ly thân mỗi người ở một nơi anh T1 cũng không quan tâm đến chị, không hỏi thăm và cũng không cấp dưỡng cho các con khiến chị T không còn tình cảm dành cho anh T1. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh T1 thì cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn chính là từ việc kinh tế trong gia đình gặp nhiều khó khăn, bản thân anh chị đều không có việc làm, không có thu nhập nên mới thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau, anh T1 không thừa nhận đánh đập chị T và các con. Đến nay anh T1 đã đi làm và có thu nhập ổn định nên muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình do vậy anh không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy rằng, lời khai của chị T và anh T1 cùng khẳng định quá trình chung sống vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn, lời khai của anh chị cơ bản phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú: “trong khoảng thời gian khoảng 3 – 4 năm trở lại đây, chúng tôi thấy chị T không còn chung sống với anh T1 ở đây nữa... nguyên nhân mâu thuẫn của anh T1 và chị T chủ yếu là về vấn đề kinh tế là chính vì thời điểm đó anh T1 không có công ăn việc làm ổn định, sống lông bông, cuộc sống kinh tế khó khăn nên vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn,, bất đồng, sau đó bố mẹ anh T1 qua đời thì chị T cũng đưa con đi về quê ở.... ”. Lời khai của chị T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn khiến chị T quyết định sống ly thân với anh T1 cũng phù hợp với lời khai của cả hai con chung của anh chị thể hiện “bố mẹ cháu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã....”, tại phiên toà chị T khẳng định mâu thuẫn của anh chị không thể khắc phục được, tình cảm dành cho anh T1 không còn nên vẫn giữ quan điểm xin ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 mà không chấp nhận yêu cầu về đoàn tụ gia đình của anh T1.
+ Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu T và anh Vũ Hữu T1 có 02 con chung là Vũ Thanh T2, sinh ngày 27/7/2010 và Vũ Thảo N, sinh ngày 10/8/2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thu T đều giữ quan điểm muốn được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung vì từ khi sống ly thân chị T đã đưa các con về chung sống cùng gia đình nhà ngoại ở tại huyện B, tỉnh Hải Dương, từ thời gian đó anh T1 cũng không đóng góp cùng chị để lo cho các con, mong muốn của chị T cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung của anh chị là đều muốn được mẹ nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay các con chung của anh T1, chị T đều đã ổn định cuộc sống, sinh hoạt, học tập, chị T có sức khoẻ và cũng có thu nhập ổn định nên đảm bảo được việc nuôi dưỡng con chung; bản thân anh T1 do không đồng ý ly hôn nên không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Do vậy yêu cầu nuôi dưỡng các con chung của chị T là chính đáng, để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển ổn định, lâu dài cho các con chung của anh chị cần thiết giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng khi giải quyết cho anh chị được ly hôn. Do chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh T3 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
+ Về tài sản và công nợ chung: không có.
[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T; cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu T và anh Vũ Hữu T1.
- Về con chung: giao 02 con chung là Vũ Thanh T2, sinh ngày 27/7/2010 và Vũ Thảo N, sinh ngày 10/8/2017 cho chị Nguyễn Thị Thu T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Hữu T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp ngày 30/10/2024 theo biên lai số: 0002480 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, bị đơn; báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa Nguyễn Thị Thu T và Vũ Hữu T
