Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 02 - 2025

V/v xin ly hôn và nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc T

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lương Phi H
  2. Ông Sơn M

- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên toà: Thuộc trường hợp không tham gia.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐHPT-HNGĐ, ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh Phương Thanh L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2024 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Kim Đ trình bày:

Chị và anh Phương Thanh L do quen biết và tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân, được hai bên gia đình chấp thuận, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 92, ngày 21/11/2008.

Thời gian đầu hai anh chị chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống do anh Thanh L thường xuyên nhậu nhẹt, không lo chí thú làm ăn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng anh chị hiện đã sống ly thân từ năm 2022 cho tới nay. Từ đó, chị Kim Đ nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên xin được ly hôn với anh Phương Thanh L.

Về con chung: Giữa chị Kim Đ và anh Thanh L có 02 con chung là cháu Phương A P, sinh ngày 14/01/2010 và cháu Phương Hoàng L1, sinh ngày 04/8/2018. Hiện tại cháu Phương A P đang sống với anh L ở ấp H, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, còn cháu Phương Hoàng L1 đang sống với chị Kim Đ ở ấp L, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Về cấp dưỡng nuôi con: Sau khi ly hôn chị Kim Đ xin được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương Hoàng L1 và không yêu cầu anh Thanh L cấp dưỡng nuôi cháu L1. Chị Kim Đ đồng ý để anh Thanh L tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phương A P và chị Đ không cấp dưỡng nuôi cháu P.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Kim Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Kim Đ có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 31/12/2024, bị đơn anh Phương Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Kim Đ và anh Phương Thanh L.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Theo lời trình bày của chị Nguyễn Kim Đ thì giữa chị và anh Phương

2

Thanh L do quen biết và tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân, được hai bên gia đình chấp thuận, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 92, ngày 21/11/2008. Thời gian đầu hai anh chị chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống do anh Thanh L thường xuyên nhậu nhẹt, không lo chí thú làm ăn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng anh chị hiện đã sống ly thân từ năm 2022 cho tới nay. Từ đó, chị Kim Đ nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên xin được ly hôn với anh Phương Thanh L.

Đối với anh Phương Thanh L, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh vẫn không tham gia và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Kim Đ, nên anh đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy, anh Thanh L phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định.

Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Kim Đ và anh Phương Thanh L đã rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thêm nữa anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Kim Đ được ly hôn với anh Phương Thanh L.

[3] Về con chung: Giữa chị Kim Đ và anh Thanh L có 02 con chung là cháu Phương A P, sinh ngày 14/01/2010 và cháu Phương Hoàng L1, sinh ngày 04/8/2018. Hiện tại cháu Phương A P đang sống với anh L ở ấp H, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, còn cháu Phương Hoàng L1 đang sống với chị Kim Đ ở ấp L, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Sau khi ly hôn, chị Kim Đ yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương Hoàng L1 và chị đồng ý giao cháu Phương A P cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu này của chị Kim Đ là có căn cứ, bởi từ lúc anh chị sống ly hôn đến nay thì các cháu vẫn sống ổn định bình thường, anh L không có ý kiến trình bày về yêu cầu này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của chị Kim Đ.

Vì vậy, giao cháu Phương A P, sinh ngày 14/01/2010 cho anh Phương Thanh L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Kim Đ không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Giao cháu Phương Hoàng L1, sinh ngày 04/8/2018 cho chị Nguyễn Kim Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Thanh L không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Kim Đ và anh Phương Thanh L

3

chưa ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Kim Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim Đ phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 9; 51; 56; 57; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
  • - Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim Đ.

Xử cho chị Nguyễn Kim Đ được ly hôn với anh Phương Thanh L.

2. Về con chung:

Giao cháu Phương A P, sinh ngày 14/01/2010 cho anh Phương Thanh L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Giao cháu Phương Hoàng L1, sinh ngày 04/8/2018 cho chị Nguyễn Kim Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Kim Đ không trực tiếp nuôi cháu Phương A P và anh Phương Thanh L không trực tiếp nuôi cháu Phương Hoàng L1 nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Kim Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Nguyễn Kim Đ đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012905, ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Do đó, chị Nguyễn Kim Đ đã nộp xong.

4

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn. Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh VL: 01;
  • - VKSND TXBM: 01;
  • - Chi cục THADS TXBM: 01;
  • - UBND xã Đông Thành;
  • - Đương sự: 02;
  • - Lưu: 08.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc T

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 10/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, NUÔI CON
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger